Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

Sau 40 năm bí mật của Hoa Kỳ

;

Sau 40 Năm Bí Mật

Hoàng Duy Hùng

Đầu mùa hè năm 2011, thế giới lên cơn sốt về việc Trung Cộng tạo căng thẳng ở Biển Đông thì ai nấy đều ngóng trông nơi Hoa Kỳ với niềm hy vọng Hoa Kỳ sẽ là cứu tinh giúp họ đối phó với mộng bành trướng của Trung Cộng.  Nhưng ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho giải tỏa (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan hơn 40 năm trước làm cho niềm tin của nhiều người nơi Hoa Kỳ tan thành mây khói.  Sau đó, National Security Archive ở George Washington University đưa ra thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại đi vào chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai càng làm cho nhiều người nhìn ra sự thật phũ phàng Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự làm hòa và giao thương với Trung Cộng.

Tài liệu này tung ra làm cho hồi ký của Kissinger xuất bản năm 1979 (The Memoirs) không còn giá trị vì nhiều điều trong hồi ký của Henry Kissinger viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Hồi ký của Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân. Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ là tối thượng cho dầu chính sách này đưa đến sự phản bội những đồng minh cũng như phải dấu diếm và lừa cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ.

Đầu thập niên 1970s, Hoa Kỳ thay đổi sách lược bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô buộc Hoa Kỳ phải hất Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Trung Cộng vào thay thế vị trí này. Cách đây 40 năm, Hoa Kỳ đã công nhận chỉ có một nước Trung Quốc, và Đài Loan cũng chỉ là một tỉnh của Trung Quốc với một thể chế đặc biệt!! Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này 40 năm và sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách này cho đến khi Đài Loan danh chính ngôn thuận thống nhất với Trung Quốc, và thường thì khi sự thống nhất xảy ra, Trung Quốc lúc đó có thể chế đa đảng. 

Tài liệu cũng cho thấy Trung Cộng đặt điều kiện giải quyết vấn đề Đài Loan đi đôi với giải quyết chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để cho Cộng Sản Việt Nam chiếm cả nước, và Hoa Kỳ phủi tay trong một thời gian vài thập niên bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng tạo ảnh hưởng. Tài liệu cho thấy khi ấy Bắc Việt rất bối rối và chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B52 bỏ bom ở Hà Nội, và nếu Hoa Kỳ tiếp tục bỏ bom thêm 2 tuần nữa thì Hà Nội có lẽ đã đầu hàng, nhưng vì đã thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom như một hình thức vất đi chiến thắng đang ở trong tầm tay!   Cũng vì chính sách này nên tháng Giêng năm 1974, Trung Cộng đưa hải quân đánh Hoàng Sa, Hải Quân VNCH chiến đấu và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu nhân đạo thôi thì Đệ Thất Hạm Đội nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu nhưng vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan ức tại Biển Đông.

Tại sao Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tiết lộ những bí mật này?  Có phải họ có lòng thành tiết lộ những bí mật đầy lừa lọc và phản trắc đối với các đồng minh của họ?  Bí mật lịch sử đã vén màn, liệu những đồng minh của Hoa Kỳ có còn tin tưởng nơi Hoa Kỳ như họ đã có trước đây?

Thật ra Hoa Kỳ ở trong tình thế không thể giữ bí mật lâu dài được nữa vì trước đây những chi tiết này đã rò rỉ ra ngoài hầu hết rồi và nếu cứ tiếp tục dấu diếm những điều mà mọi người đã đoán biết thì hệ quả của nó còn tai hại hơn cả việc tiết lộ.  Cách đây 40 năm, ông Daniel Ellsberg đã tiết lộ những bí mật này cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ.  Ngày hôm nay, Văn Khố Quốc Gia tung ra những tài liệu cách đây 40 năm chỉ là để xác nhận cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác, thôi, mọi người đừng đoán già đoán non nữa.

Ông Daniel Ellsberg là  người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago (sinh ngày 7/4/1931), là một người phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội.  Ông từng là nhân viên của RAND Corporation.  Rand là chữ viết tắt của Research and Development, một công ty bất vụ lợi chuyên phân tích tình hình cho Quân Đội Hoa Kỳ và Doughlas Air Company là một công ty chế tạo các vũ khí cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ.  Rand có 1600 nhân viên và trong 1600 nhân viên này có những người làm cho tình báo Hoa Kỳ.

Năm 1954, sau khi tốt nghiệp ở Harvard, Daniel Ellsberg gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ.  Ông ra trường đứng đầu lớp cả 1000 người.  Mang lon Thiếu Uý, ông trở thành tiểu đội trưởng.  Sau 2 năm phục vụ cho Hải Quân, ông được trở về công việc dân sự, ông tiếp tục học ở Harvard và tham gia giúp Rand chuyên phân tích tình hình quân sự.  Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ Quốc Phòng và ông tham gia biến cố hạm đội USS Maddox xảy ra ở Vùng Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin) năm 1964. Khi ấy Hoa Kỳ nói rằng Bắc Việt tấn công hạm đội USS Maddox để lấy cớ đó tấn đánh Bắc Việt nhưng bây giờ tài liệu đã giải mã, chính Hoa Kỳ dàn dựng vụ này hơn là Bắc Việt.  Năm 1965, ông được chuyển sang làm Bộ Ngoại Giao đặc trách phân tích tình hình Việt Nam.  Năm 1967, ông trở về làm cho Rand và cho Bộ Quốc Phòng, trực tiếp chịu trách nhiệm với Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Năm 1969, ông không có thiện cảm sách lược của Hoa Kỳ với Cuộc Chiến Việt Nam và sau khi nghe Randy Kehler (sinh năm 1944), một trong những người phản chiến thuyết trình cách hùng hồn, ông Daniel Ellsberg trở thành một trong những người chống chiến tranh. Sau khi đã có thiện cảm với nhóm phản chiến và ở cương vị là một người có thể tiếp xúc được những tài liệu tối mật của quốc gia, cùng với Anthony Russo (1934-2008) làm ở Rand, Daniel Ellsberg bí mật sao lại (copy) nhiều tài liệu tối mật và rò rỉ ra ngoài cho báo chí biết. Tài liệu rò rỉ bí mật này được giới truyền thông Hoa Kỳ đặt tên cho là Pentagon Papers. Năm 1970, Daniel Ellsberg cố gắng ảnh hưởng trên các Thượng Nghị Sĩ bằng cách thuyết phục các đổng lý văn phòng (chiefs-of-staff) của các Thượng Nghị Sĩ những tàn hại về Chiến Tranh Việt Nam.

Chủ Nhật ngày 13/6/1971, lần đầu tiên báo Times đăng trích đoạn từng phần 7000 trang Pentagon Papers.  Tổng Thống Richard Nixon và Henry Kissinger bị cú đấm bất ngờ, lập tức phản ứng cách hung hãn, cách chức nhiều người họ nghi hoặc. Tổng Thống Nixon nói: “Hãy cách chức ngay những tên đầu não.”  Nội các của Tổng Thống Nixon nộp đơn khẩn cấp xin Tối Cao Pháp Viện ngăn cấm không cho Times và các báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật của Quốc Phòng.  Times và các cơ quan truyền thông báo chí nhất quyết không chịu tiết lộ Daniel Ellsberg là nguồn gốc nhận tin của họ.  Daniel Ellsberg phải trốn chui trốn nhủi trong bí mật cả 2 tuần.  Sau 2 tuần, Tối Cao Pháp Viện phán quyết Times có quyền tiếp tục đăng tải những thông tin tối mật của Bộ Quốc Phòng được rò rỉ tới họ vì đây là Tự Do Ngôn Luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất.  Phán quyết này như một cú tát tai vào mặt nội các của Tổng Thống Richard Nixon.

Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg và bạn đồng nghiệp Anthony Russo nộp mình cho FBI ở Boston Massachussett.  Chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ truy tố 2 người vi phạm Đạo Luật Tình Báo Năm 1917 (Espionage Act 1917).  Sau 2 năm điều tra và nhiều biến chuyển, vào tháng 5 năm 1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này. Sau vụ án này, Daniel Ellsberg đi thuyết trình nhiều nơi về các đề tài chính trị cũng như những bí mật lịch sử liên quan đến Việt Nam và Đài Loan. 

Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã tiết lộ những bí mật cách đây hơn 40 năm và hiện nay Daniel Ellsberg còn sống và còn đi thuyết trình những vấn đề đó nên Văn Khố Quốc Gia chấp nhận bạch hóa hồ sơ.  Khi bạch hóa hồ sơ thì một hình thức nào đó họ cũng xác nhận chính sách của Hoa Kỳ là “quyền lợi của Hoa Kỳ là tối thượng” nên sẵn sàng bất chấp cả sự phản bội đối với đồng minh để đạt mục tiêu. Trong tương lai, những ai muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải biết điều này mà trong luật họ gọi đó là caveat emptor – let the buyer beware, làm bạn với Mỹ và nếu Mỹ đâm sau lưng cách bất ngờ thì đừng có than trời trách đất.

Lời Kết: Hoa Kỳ là siêu cường số 1 trên thế giới hiện nay nên không giao dịch hoặc làm bạn với Hoa Kỳ thì thiệt hại rất nặng nề. Làm bạn với Hoa Kỳ thì phải biết được ưu và khuyết điểm của Hoa Kỳ, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng nơi Hoa Kỳ để rồi không biết tự xây dựng thực lực cho chính bản thân mình thì có ngày vì quyền lợi của Hoa Kỳ, họ bán đứng không kịp trở tay thì đau lòng vô cùng.   Trở lại vấn đề Biển Đông,  chắc Hoa Kỳ và Trung Cộng đã có một thỏa thuận ngầm gì ở đàng trong rồi nên Bộ Trưởng Quốc Phòng của Trung Cộng là Trì Hạo Điền mới dám mạnh miệng tuyên bố với Hoa Kỳ là “hãy chia đôi Thái Bình Dương” và trong tháng 6/2011 Bắc Kinh đổ hơn 1000 tỷ Mỹ Kim mua công khố phiếu của Hoa Kỳ.  Chỉ có chế độ đa đảng và sự đoàn kết của người Việt trong và ngoài nước thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Thiếu một trong 2 yếu tố này, nguy cơ mất nước của Việt Nam rất là gần kề./.

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2011

Câu chuyện của nước Mỹ

Câu chuyện từ 1 đồng đôla Mỹ và những bóng ma trên tượng Thần Tự do

09:55:00 15/05/2011

Cái giá mà loài người đương đại phải trả để có một nền kinh tế Mỹ siêu cường là quá nhiều máu đổ ở bên ngoài nước Mỹ, nhân tính ngày càng teo lại trước dục vọng vật chất và trước cả dư thừa vật chất, còn nỗi sợ hãi thì ngày càng phình to như những bóng ma trên bầu trời New York.

Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Trân Châu Cảng rung chuyển, và nước Mỹ bàng hoàng. Lần đầu tiên kể từ sau kết thúc nội chiến năm 1865, người dân Mỹ thức dậy trong nỗi sợ hãi chiến tranh: không phải chiến tranh trong những bản tin hay trong những khái niệm, mà chiến tranh ở đây, trên chính đất nước được gây dựng bởi niềm tin được Chúa chở che và ban phước.

Chính phủ của Tổng thống Roosevelt hiểu rằng: nước Mỹ không thể an toàn ở Tân Thế giới được nữa, Đại Tây Dương không ngăn được chiến tranh tràn đến những bờ biển đẹp đẽ yên bình của họ. Họ không thể cứ làm ra vũ khí để bán cho những cuộc chiến ở bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. Đã đến lúc họ phải sử dụng những vũ khí đó cho sự an toàn của bản thân mình.

Ngày 8 tháng 12 năm 1941, Tổng thống Roosevelt tuyên bố chiến tranh. Nếu người Nhật không tấn công Trân Châu Cảng, không ai dám chắc việc người Mỹ có cùng quân đội đồng minh đổ bộ vào Normandie hay không, càng không ai dám đưa ra một kịch bản khác cho kết cục của Thế chiến.

11 tháng 9 năm 2001, nước Mỹ lại một lần nữa sống trong nỗi sợ hãi bao trùm. Quân đội Mỹ hùng mạnh, chính phủ quyền lực nhất thế giới, uy danh của một siêu cường không bảo vệ được công dân của mình ngay trên lãnh thổ được cho là an toàn gần như tuyệt đối. Máu đã chảy dưới chân chính Nữ thần Tự do. Và cuộc sống vĩnh viễn không còn như trước nữa, đối với tất cả công dân Hoa Kì cũng như đối với tất cả những người yêu hoà bình trên toàn thế giới.

Việc những bộ phim về chiến tranh, về thảm hoạ và ngày tận thế nở rộ trên các màn ảnh rộng cũng như trên các kênh truyền hình chính là tấm gương phản chiếu nỗi sợ hãi đang từng ngày gặm nhấm trong tiềm thức mỗi con người hiện đại. Chúng ta đang sống trong một thế giới bất ổn và đầy đe doạ.

Trong suốt nhiệm kì của mình, chính quyền của Tổng thống Geogre Bush đã đeo đuổi việc phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa (National missile defense - NMD) tại Đông Âu, trên lãnh thổ Ba  Lan và Cộng hoà Czech. Tháng 9 năm 2009, Tổng thống Obama tuyên bố điều chỉnh kế hoạch NMD tại châu Âu: chuyển hướng chiến lược sang Nam Âu và Thổ Nhĩ  Kỳ.

Tháng 2 năm 2011, chính quyền Obama trình Quốc hội đề nghị tăng ngân sách cho dự án NMD lên đến 8,626 tỷ đô la cho năm 2012. Ngày 3 tháng 5 năm 2011, Romania cho phép Mỹ triển khai NMD tại khu vực biên giới Romania và Bulgaria.

Dường như đó là những bước đi được tính toán cẩn thận cho một mục đích: không chỉ để phòng thủ, quân đội Mỹ và hệ thống phòng thủ tên lửa Mỹ có khả năng tấn công bất kì mục tiêu nào nằm ngoài lãnh thổ mang biểu hiện đe dọa an ninh của Hợp chủng quốc. Nói một cách khác, nước Mỹ sẵn sàng gây chiến tranh ở quốc gia khác để tránh chiến tranh trên vùng đất được gắn mác tự do, bình đẳng và nhân đạo của mình.

Tiến trình triển khai NMD được cộng đồng quốc tế dõi theo từng bước, tạo nên những phản ứng đa chiều. Các tổ chức khủng bố chống Mỹ điên cuồng gửi đi những lời đe doạ và cả những tiếng bom nhằm vào quân đội Mỹ và những chính quyền thân Mỹ.

Còn với người dân Mỹ, dường như quyết tâm tăng cường sức mạnh quân sự của vị tổng thống da màu đã làm vơi đi phần nào nỗi sợ hãi ám ảnh họ suốt hơn thập kỉ qua: rằng cuộc sống bình yên và thịnh vượng của họ có thể mất bởi những khối căm thù đến từ bên ngoài nước Mỹ.

Quả thực, mỗi người dân Mỹ sống với một niềm tin gần như tuyệt đối về ân điển của Chúa trời ban cho một phần ba châu lục quá đỗi giàu có này. Niềm tin ấy được thần thánh hoá từ những ngày lập quốc, được vẽ thành biểu tượng trên quốc ấn, được biến thành gần gũi với mỗi người dân Mỹ trên tờ tiền giấy mệnh giá một đô la.

Câu chuyện về tham vọng bành trướng của nước Mỹ bắt đầu vào tháng 6 năm 1782, khi thư kí Hạ viện Charles Thomson đề xuất biểu tượng Kim Tự Tháp 13 bậc đang tiếp tục được xây cao hơn, bên trên là con mắt mang ánh hào quang thường được nhìn như mắt thần Horus, với hai dòng chữ La tinh ANNUIT COEPTIS (God approves of the undertakings) và NOVUS ORDO SECLORUM (A new order of the ages).

Những dòng chữ này có thể được hiểu như Chúa ban ân điển cho những gì chúng ta (nước Mỹ) đã và đang làm để bắt đầu một trật tự mới của thời đại. Những chữ số La Mã dưới chân Kim Tự Tháp là 1776 - năm của Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, đánh dấu thời điểm bắt đầu của một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của nước Mỹ, của một đỉnh cao mới - một Kim Tự Tháp sẽ còn cao lên nữa, quy tụ toàn nhân loại.

Bởi lẽ, sự trù phú của đất đai, sự giàu có của thiên nhiên đa dạng trên một lãnh thổ cực kì rộng lớn sẽ đem đến sự thịnh vượng tất yếu - nền tảng của sức mạnh quốc gia. Đó cũng là nền tảng cho sự trỗi dậy định mệnh - Manifest Destiny của Tân thế giới. Khi mà chỉ với 15 triệu đô la, đất đai của Hợp chủng quốc được mở rộng thêm hơn 2 triệu km2 vào tháng 4 năm 1803 sau cuộc mua bán với Napoléon Bonaparte, rồi những cuộc chiến ngắn ngủi với Nga và Mexico dẫn đến việc sát nhập Alasca, Texas, California…

Tất cả như để chứng minh rằng Đấng toàn năng đã độ trì nước Mỹ. Và bởi thế, nước Mỹ được chọn để dẫn đường cho cả nhân loại, theo cách nói của Tổng thống thứ hai mươi tám Woodrow Wilson: Tôi tin rằng Chúa đã dẫn dắt từ thuở khai sinh của đất nước này, rằng chúng ta được chọn để chỉ đường cho các nước khác trên thế giới trong hành trình đi đến tự do. Hoa Kỳ là quốc gia lý tưởng duy nhất trên thế giới. Hoa Kỳ nhận được ân điển vĩnh hằng để thực hiện sứ mệnh cứu thế giới này. Chúng ta đến để cứu chuộc thế giới bằng tự do và công lý.

Ít nhất thì các thế hệ người Mỹ của hai mươi ba thập kỉ qua đã thành thực tin vào điều đó. Niềm tin đó tuyệt đối, ngây thơ và nguyên thuỷ đến nỗi, khi những tấn thảm kịch xảy ra, rất ít người đặt câu hỏi vì sao nước Mỹ lại có thể bị căm thù và bị ghét bỏ đến thế? Chính phủ Mỹ, quân đội Mỹ đã làm điều gì để đến mức những người phụ nữ có con nhỏ, những thanh niên nhút nhát hiền lành, thậm chí những đứa trẻ được sinh ra ở quá xa nước Mỹ… sẵn sàng đánh bom tự sát để giết được người Mỹ?

Tháng 2 năm 2003, thời điểm chính phủ Hoa Kỳ phát động cuộc chiến tại Iraq, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Dominique de Villepin - đại diện cho chính quyền của Tổng thống Jacques Chirac lên tiếng phản đối, kêu gọi gây dựng một diễn đàn cho hoà bình. Tiếng nói đó nhận được sự chia sẻ trong cộng đồng Pháp ngữ cùng những nước không thân Mỹ, tạo nên một đối trọng trong dư luận.

Tổng thống Geogre Bush đã lên án ông Chirac là vô ơn (ingrate), ám chỉ nước Pháp đã quên cuộc đổ bộ vào Normandie của người Mỹ và những người lính khác đến từ bốn châu lục, giải phóng Paris và cả thế giới khỏi hoạ phát-xít. Trên các phương tiện truyền thông tuyên truyền cho chiến tranh, trên các thăm dò dư luận được công bố, đa số người dân Hoa Kỳ đã tin là người Pháp vô ơn.

Câu chuyện Normandie quá tốt đẹp và bộ phim của đạo diễn tài năng Steven Spielberg "Giải cứu binh nhì Ryan" quá cảm động đã khiến cho rất nhiều người Mỹ hồn nhiên nhìn nhận cuộc chiến ở Iraq cũng được gắn lá cờ chính nghĩa là Tự do và Công lý như huyền thoại gần 60 năm trước.

Trong niềm tin hồn nhiên ấy, như thể chính người Mỹ đã tiêu diệu phát-xít, mang lại hoà bình cho thế giới. Và gần đây nhất, sự ngây thơ của người Mỹ thể hiện ở uy tín lên cao của Tổng thống Obama sau chiến công tiêu diệu Osama Bin Laden - người Arab lẽ ra vô danh nếu không mang lòng hận thù cực đoan với nước Mỹ, và nếu không kiên quyết bảo vệ đến cùng đức tin bị tổn thương của dân tộc mình.

Cứ như thể Bin Laden là kẻ thù định mệnh của nước Mỹ, và tiêu diệt được Bin Laden, nước Mỹ có thể ngủ yên, để an tâm thực hiện sứ mệnh xây dựng  trật tự mới của thời đại - kỷ nguyên của nước Mỹ trên trái đất này.

Nhưng nếu quả thực sứ mệnh mà Chúa trời trao cho nước Mỹ là mang lại những giá trị Tự do, Bình đẳng và một nền dân chủ thực sự cho toàn thế giới, thì tại sao ngay trên chính đất nước của mình, sau 4 năm nội chiến đẫm máu với khẩu hiệu giải phóng nô lệ đầy tính nhân văn của miền Bắc tư bản công nghiệp, luật Jim Crow phân biệt chủng tộc một cách cực đoan vẫn thống trị nước Mỹ gần một trăm năm, cho đến tận 1964?

Tự do, Bình đẳng, Công lý vẫn là những ý niệm tốt đẹp nhưng xa vời, tồn tại trong một niềm tin đã bộc lộ sự mong manh của mình khi Julian Assange và WikiLeaks làm lúng túng cả một hệ thống chính trị hùng mạnh với rất nhiều đồng minh chỉ bằng những cuộc hội thoại, những bức điện chứa đựng không gì ngoài sự thật.

Trong khi đó, CocaCola, hamburger, gà rán Kentucky, tiếng Anh-Mỹ, phim Holywood và American Idol đã làm thay đổi thói quen sinh hoạt của người dân toàn thế giới, tạo nên những lai căng văn hoá và những xung đột đức tin. Tự do và nhân quyền được sử dụng như một khẩu hiệu đẹp đẽ phủ lên những toan tính chính trị của một đất nước rộng lớn với những nhà tù như Guantanamo, nơi những người như cậu thanh niên 25 tuổi rụt rè Bradley Manning bị giam giữ và bị tra tấn mà không có bất kỳ phiên toà nào xét xử.

Vẫn luôn lên tiếng cho nhân quyền ở ngoài biên giới Mỹ, vậy mà  bà Clinton đã làm ngơ trước hàng trăm cuộc biểu tình trong và ngoài nước Mỹ đòi trả tự do cho người thanh niên mang tội không chấp nhận bạo lực và dối trá ấy.

Thậm chí, đa số các chính trị gia Hợp chủng quốc đều cho rằng Brad Manning đã phạm tội phản bội khi để cho thế giới biết đến vụ thảm sát ngày 12 tháng 7 năm 2007 tại Baghdad, giết chết 18 dân thường trong đó có hai trẻ em, với thủ phạm là chiếc Apache của không lực Mỹ, với những tiếng cười vô tư của những người đến Iraq với lá cờ Tự do và Công lý khi xác nhận những xác chết nằm lại hiện trường.

Có thể Brad Manning đã phản bội lại cả một hệ thống tuyên truyền cho chiến tranh, nhưng anh trung thành với sự thật và với đức tin của mình. Khó có thể tin được rằng những Mỹ Lai, Guantanamo, Iraq… tất cả những tội ác chiến tranh ấy là vì Công lý, hay vì giấc mơ về quyền được sống và được mưu cầu hạnh phúc của con người? Hay chăng, suy cho cùng, giấc mơ Mỹ, giá trị Mỹ cuối cùng chỉ để nhắm đến một thế giới thực sự phẳng và đồng nhất về những tiêu chuẩn tiêu dùng và hưởng thụ, để thị trường cho người khổng lồ kinh tế Mỹ trải dài không biên giới?

Nếu là như vậy, thì cái giá mà loài người đương đại phải trả để có một nền kinh tế Mỹ siêu cường là quá nhiều máu đổ ở bên ngoài nước Mỹ, nhân tính ngày càng teo lại trước dục vọng vật chất và trước cả dư thừa vật chất, còn nỗi sợ hãi thì ngày càng phình to như những bóng ma trên bầu trời New York

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Những giờ đen tối trước 30/4/1975

Những giờ đen tối

Lữ Giang

Nhiều người đã ngạc nhiên hay cảm thấy buồn tê tái khi đọc bài “Một số chuyện đáng buồn” của chúng tôi trích dẫn một số đoạn trong cuốn hồi ký “Decent Interval” của Frank Snepp, một viên chức cao cấp của CIA ở Sài Gòn, tiết lộ việc tướng Nguyễn Cao Kỳ âm mưu đảo chánh ông Thiệu, về tài sản của ông Thiệu, về 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia, về số vàng của Hàng Không Việt Nam biến mất, việc đánh lừa Tướng Dương Văn Minh ra làm Tổng Thống được nói là để thương lượng với Hà Nội nhưng thật sự là để tuyên bố đầu hàng, vụ tổng xuất Tổng Thống Thiệu, v.v. Không ai có thể ngờ được chính phủ Hoa Kỳ đã giết ông Diệm để nhảy vào lãnh đạo cuộc chiến Việt Nam và đưa miền Nam vào những ngày đen tối như vậy.

Hôm nay, chúng tôi sẽ trích thêm một số đoạn nói về việc Hoa Kỳ đã tuyển chọn những tay chân bộ hạ như thế nào để thi hành kế hoạch rút khỏi miền Nam và Hoa Kỳ đã điều khiển những giờ cuối cùng của miền Nam như thế nào. Đây là những giờ đau buồn nhất của VNCH.

Dĩ nhiên, có một số người đang số gắng chống lại việc công bố những sự thật lịch sử vì cho rằng nó phương hại đến những gì mà họ đang trân trọng. Nhưng những tài liệu về cuộc chiến Việt Nam hầu hết đã được đưa ra ánh sáng và nằm đầy trong các văn khố, trong các hồi ký của các nhân chứng lịch sử và trong các tài liệu nghiên cứu..., làm sao có thể dùng cảm tính của cá nhân hay một số tập thể để thay đổi lịch sử được? Các sử gia, các nhà phân tích và các thế hệ mai sau sẽ không quan tâm đến những cuộc biểu tình sôi động trên phố Bolsa hay những tuyên ngôn truyên cáo, họ chỉ dựa vào các tài liệu nói trên để đánh giá cuộc chiến Việt Nam và rút bài học lịch sử.

KHI MỸ CHUẨN BỊ RÚT LUI

Trong phần đầu của cuốn “Decent Interval” Frank Snepp đã tiết lộ cho chúng ta thấy Hoa Kỳ đã chuẩn bị như thế nào khi muốn rút lui khỏi cuộc chiến Việt Nam. Lối mô tả của viên chức CIA này có vẽ sống sượng hơn lối mô tả của các nhà chính trị, nhưng nó đã giúp cho chúng ta nhìn rõ sự thật lịch sử hơn. Frank Snepp viết:

“Với cái "mục tiêu thân hữu” (“friendly target”), như chế độ của Thiệu được gọi, khó khăn là làm thế nào để vừa buộc họ phải tuân theo chính sách của chính chúng tôi, vừa có những tay sai (agents) có chất lượng để thi hành chính sách đó.

“Trong những năm ngay sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, từ năm 1963, miền Nam Việt Nam liên tiếp bị xáo trộn vì những cuộc đảo chính và chống đảo chính. Có những viên tướng đầy tham vọng định lợi dụng tình trạng không ổn định của nước này để đục nước béo cò. Năm 1967, một phần vì sự gợi ý của một phân tích gia về quân sự trẻ và thông minh ở Sài Gòn tên là Daniel Ellsberg, chính phủ Hoa Kỳ đã quyết định ủng hộ một đối thủ (contender) khác, một viên tướng miền Nam bình thường và coi như phi chính trị (modest, supposedly non-political) tên là Nguyễn Văn Thiệu – trong một nỗ lực cuối cùng để chấm dứt các cuộc khủng hoảng. Sau đó ít lâu, cùng năm ấy, Thiệu được đưa lên làm Tổng thống. Người có quyền lực thật sự trên đất nước lúc đó là Nguyễn Cao Kỳ, một người Bắc nổi bật (flamboyant) nguyên Thủ tướng nay trở thành Phó Tổng Thống. Nhưng Đại sứ Bunker không hề lo sợ về Kỳ và phe cánh của Kỳ. Dần dần, ông gạt được họ ra và chỉ nói về những vấn đề chính trị với Thiệu mà thôi. Một “cú ân huệ” (coup de grâce) đã đến với Kỳ trong cuộc tấn công của Cộng Sản năm 1968 khi một số trong các đồng minh thân tín đầy quyền lực của ông ta bị giết.

“Từ đó, mục tiêu chính của sứ quán là củng cố bằng mọi giá chính phủ Thiệu, để cho nước Mỹ có thế rút quân ra khỏi Việt Nam mà không sợ nổ ra một cuộc khủng hoảng chính trị mới. Tháng 10 năm 1972, nhằm mục tiêu ấy, chúng tôi đã mua, mua chuộc và bán rất nhiều nhân vật quân sự, chính trị Nam Việt Nam, để các nhân viên tình báo, những người cộng tác với chúng tôi nằm trong chính phủ chỉ là những phần nối dài của chính chúng tôi.

(We had bought, bribed and sold so many South Vietnamese military and political figures that our spies and collaborators inside government were mere extensions of ourself.” (tr. 13)

Qua hai đoạn được trích dẫn nói trên, chúng tôi có những nhận xét sau đây:

1.- Hai tướng Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu đã được CIA tuyển chọn khi cả hai cùng đi học khoá Command and General Staff College ở Fort Leavenworth, Kansas, tại Hoa Kỳ vào năm 1957 – 1958, rồi được cài vào chính phủ Ngô Đình Diệm để lật đổ chính phủ này và thực hiện các kế hoạch tiếp theo do Mỹ đưa ra. Frank Snepp chỉ mới làm việc cho CIA từ năm 1968, không nắm vững những chuyện đó nên tưởng rằng ông Thiệu mới được tuyển chọn năm 1967.

2.- Tiêu chuẩn để tuyển chọn một người cấm quyền tại Nam Việt Nam để thi hành chính sách của Mỹ được Frank Snepp nói rõ: Phải tuân hành chính sách của Mỹ và có khả năng thi hành chính sách đó. Một tiêu chuẩn thứ ba là phi chính trị (non-political), chỉ biết làm theo sự dẫn dắt.

3.- Ông Thiệu được đưa lên làm tổng thống không phải để bảo vệ miền Nam mà là để “Mỹ có thế rút quân ra khỏi Việt Nam mà không sợ nổ ra một cuộc khủng hoảng chính trị mới”.

4.- Ông Thiệu không được coi như là một cộng tác viên (collaborator) của Mỹ mà chỉ là một tay sai (henchman), được lèo lái để hoàn thành chính sách của Mỹ. Với chủ trương “Từng chiến lược cho từng mức viện trợ”, ông Thiệu coi miền Nam như lãnh thổ của Mỹ: Mỹ cấp viện trợ đủ, giữ cả miền Nam. Mỹ cắt bớt viện trợ, thu nhỏ lãnh thổ lại và cuối cùng bỏ mất miền Nam theo như kế hoạch của Mỹ đã định trước. Chủ trương này đã dựa vào phúc trình về tình hình của tướng Mỹ John E. Murray và khuyến cáo của tướng Ted Serong, cả hai có thể được coi như là “cò mồi”. Nói một cách tổng quát, Tổng Thống Thiệu đã hành động với tinh thần của một người lính đánh thuê (mercenary) chứ không phải với tinh thần của một chiến sĩ quốc gia, cuơng quyết bảo vệ miền Nam cho đền giọt máu cuối cùng.

Giả thiết lúc đó Mỹ để cho dân miền Nam bầu một nhân vật chính trị lên làm tổng thống như Luật sư Trần Văn Tuyên, Luật sư Vương Văn Bắc, ông Trần Chánh Thành... chẳng hạn, những người này sẽ không chịu ký hiệp định Paris và đi tìm một giải pháp khác để bảo vệ miền Nam. Họ sẽ làm hỏng kế hoạch của Mỹ.

HAI “AGENTS” CỞ BỰ CỦA CIA

Frank Snepp cho biết CIA đã tuyển dụng hai tướng có thế lực của miền Nam làm “agents” cho họ để cung cấp tin tức và thi hành chính sách từng giai đoạn của Hoa Kỳ. Ông tiết lộ:

“Shackley đã lôi kéo được tướng Đặng Văn Quang, viên cố vấn sôi nổi (ebuillient) về an ninh của Thiệu (coi như Kissinger của Thiệu, nếu như bạn muốn gọi như thế) làm một người cung cấp tin tức (informant) cộng tác chặt chẽ với trạm CIA. Shackley còn triển khai sự kết hợp chặt chẽ với tướng Nguyễn Khắc Bình, người trở thành cấp chỉ huy đầy quyền lực của Cảnh Sát Miền Nam Việt Nam.

“Cho đến ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn, Quang và Bình có thể được coi là những nhân vật quan trọng nhất của chúng tôi ở Việt Nam. Nhưng trong thực tế họ được đánh giá hơi cao. Người này cũng như người kia, không ai cung cấp cho chúng tôi nhiều tin tức. Chúng tôi lấy tin chủ yếu nhờ những máy móc đặt bí mật trong dinh Tổng thống. Phòng làm việc của Thủ tướng được nghe thường xuyên. Số ít tin tức do Bình và Quang cung cấp thường sai lệch. Thật vậy, họ nhanh chóng hiểu rằng họ phải nghĩ đến quyền lợi riêng của họ và quyền lợi của Thiệu, không thể cung cấp cho chúng tôi đúng những tin tức chúng tôi yêu cầu. Hơn thế, trạm CIA phụ thuộc rất nhiều vào họ về mặt chính trị, vì họ là những người truyền đạt những chủ trương và những quyền lợi của người Mỹ trong chính phủ, vì thế chúng tôi không thể đánh giá những tin tức của họ một cách khách quan hay có phê phán.

“Sự tín nhiệm của chúng tôi đối với hai người này đã gây ra nhiều hậu quả tai hại. Không phải những cơ quan tình báo bị ánh hưởng mà cả uy tín về tinh thần và chính trị của người Mỹ đối với người Việt Nam cũng bị giảm sút. Làm cho Quang và Bình trở thành những người giàu có và có thế lực, cả Quang và Bình trở thành những biểu tượng về tham nhũng và thoái hóa theo lối Mỹ, điều đó sau cùng đã cung cấp cho Cộng Sản vũ khí tốt nhất để tuyên truyền”.

(By virtue of the wealth and prominence we bostowed on them, both Quang and Binh became symbols of the American-inflicted corruption and decadence that ultimatly provided the Communists with their best propaganda weapon).

(trích từ tr. 8 và 9).

Theo ý kiến chúng tôi, Frank Snepp đã đánh giá tướng Đặng Văn Quang quá cáo khi coi ông như là một thứ “Kissinger” của Thiệu. Tướng Thiệu và Tướng Quang cùng tốt nghiệp khóa sĩ quan Đập Đá ở Huế năm 1948 và có trình độ văn hóa thấp như nhau (chưa học xong trung học). Những người từng đi họp với tướng Quang và tướng Thiệu nhiều lần cho biết chẳng bao giờ Quang dám có ý kiến gì khác với ông Thiệu. Mỗi lần ông Thiệu hỏi chuyện gì, Quang đều trả lời: “Thưa Tổng Thống nói đúng!”.

Nhiệm vụ chính của tướng Quang là “kinh tài” cho ông Thiệu, trong đó có hai nghiệp vụ chính là đi thu hụi chết và buôn lậu. Trung Tá Trần Tích, Trưởng Phòng Quản Trị Quân Đoàn 2 kể lại rằng tháng 3 năm 1975 ông cùng tướng Phạm Văn Phú di tản khỏi Pleiku bằng máy bay. Khi vừa về tới Nha Trang, Tướng Phú đã quay lại bảo ông: “Xem có ai muốn đi làm tỉnh trưởng không?”. Trung Tá Tích rất ngạc nhiên và hỏi lại: “Giờ này mà còn tỉnh trưởng gì nữa, thưa Thiếu Tướng?”. Tướng Phú liền nói: “Tháng này chưa có 2 triệu nộp cho Trung Tướng”(!).

SỐ PHẬN CỦA KẺ PHẢN BỘI CIA

Mặc dầu tướng Đặng Văn Quang được CIA gài vào bên Tổng Thống Thiệu để lấy tin tức, nhưng trong cuộc họp tại Cam Ranh trưa 11.3.1974, tướng Thiệu ra lệnh rút khỏi Cao Nguyên, nhưng tướng Quang không báo cho CIA biết. Do đó, khi hay tin này, CIA đã sa thải tướng Quang ngay. Vì thế tướng Quang đã gặp khó khăn khi đi di tản.

Polar, Trưởng Trạm CIA Sài Gòn là người có quan hệ với người Việt Nam thuộc đủ loại, nên khi đến giờ di tản, ông đã bị nhiều người kêu cứu, nhưng trong nhiều trường hợp ông không thể giúp đỡ được. Riêng trường hợp tướng Quang, Frank Snepp đã kể lại như sau:

“Polgar trở thành tù binh trong sứ quán đúng lúc bạn bè Việt Nam chờ ông, cách đó khoảng mười ngôi nhà. Polgar đứng bên hàng rào, bất lực; ông đang nhìn biển người trước mặt, chợt một tiếng quen thuộc gọi ông, gọi to và giật giọng. Đó là nguyên cố vấn an ninh của Thiệu, tướng Đặng Văn Quang vừa đến và len tới sát hàng rào. Ông mặc một chiếc áo đi mưa dài, đeo kính đen, xách hai cặp rất nặng. Polgar nói dõng dạc với người gác cổng: "Cho người này vào". Nhưng cũng phải tranh luận, người gác cổng mới đồng ý hé cửa để Quang lách cái thân già, béo phệ của ông ta vào!

“Những giờ sau, Quang đi đi lại lại trong phòng làm việc của Polgar trên lầu sáu trông rất giống một trái quất vàng tròn trĩnh với bộ quần áo màu xanh nước biển, đeo nhiều kim cương. Quang gọi dây nói khá lâu vì trong lúc sợ hãi và vội vàng vào sứ quán, ông đã quên con cháu đang đứng bên ngoài. Quang cố cầu cứu mấy người bạn giúp.

“Hầu hết chúng tôi cố quên Quang. Thấy ông ta ngồi trong phòng, chúng tôi đi ra ngay. CIA đã trả ông ta nhiều tiền và nâng cao ông ta trong nhiều năm, và bảo đảm vị trí của ông ta bên cạnh Thiệu, nhưng cuối cùng ông ta đã phản bội chúng tôi, không cho chúng tôi biết quyết định của Thiệu rút khỏi Cao Nguyên.

“Vì thế, trong những giờ cuối cùng của ông ta ở Sài Gòn này, mặc xác ông ta xoay sở. Buổi chiều, khi máy bay trực thăng chở Quang đi, không có con ông ta - một vài người trong chúng tôi nghĩ, Thật là đáng kiếp (Good riddance)” (tr. 495 - 496)

NHỮNG GIỜ PHÚT CUỐI CÙNG

Hoa Kỳ đã quyết định tất cả về những giờ phút cuối cùng của VNCH. Họ tìm cách đưa những người Mỹ và một số người Việt Nam ra khỏi nước. Có hai nơi được dùng để thực hiện kế hoạch này, một tại cơ sở của DAO ở phi trường Tân Sơn Nhứt và một tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở đường Thống Nhất. Vì bài báo có giới hạn, chúng tôi chỉ trích một số đoạn chính Frank Snepp mô tả về những giờ phút cuối cùng tại Tòa Đại Sứ Mỹ.

Frank Snepp đã mô tả hình dạng của Đại Sứ Martin lúc đó như sau:

“Dưới con mắt của giới thân cận, Graham Martin nay giống một xác chết biết đi. Da xanh, mặt nhăn nheo, ông đứng không vững. Từ ngày Hoa Thịnh Đốn ra lệnh di tản bằng trực thăng, ông tỏ ra không còn ý chí đấu tranh nữa. Giới quân sự và đô đốc Gayler nay hoàn toàn nắm mọi công việc. Martin chỉ còn một lo lắng duy nhất: Làm thế nào di tản càng được nhiều người Việt Nam càng tốt. Nhưng phải chờ một hai giờ nữa máy bay trực thăng của hải quân mới đến.”

Đến 12 giờ 30 phút, một phi đoàn gồm 36 máy bay trực thăng đầu tiên rời cầu tàu USS Hancoch với nhiều máy bay Cobra vũ trang hộ vệ. Một phút sau, những máy bay tiềm kích phản lực Phantom từ các căn cứ ở Thái Lan bay tới bầu trời Việt Nam yểm trợ thêm. Một giờ rưỡi trôi qua kể từ lúc tổng thống bật đèn xanh cho chiến dịch "Gió Nhanh" (Frequent Wind)...

17 giờ, tướng Smith gọi sứ quán hỏi số lượng người di tản. Lần đầu tiên ông nhận được câu trả lời có vẻ nghiêm chỉnh. Một cộng tác viên của Jocbson vừa đếm lại số người trong nhà, ngoài sân: từ 1.500 đến 2000 người. Tình hình những người này lúc đó rất nóng nẩy. Mới có ba máy bay trực thăng đến chở người tị nạn. Phải 40 phút nữa mới có chuyến khác. Sốt ruột vì chờ đợi, dân tị nạn kêu ca, oán thán, chửi bới...

17 giờ 30 phút, tướng Smith báo cho hạm đội di tản biết còn khoảng 1.300 người nữa, trong đó có đơn vị an ninh hải quân gồm 840 người.

Cầu hàng không máy bay trực thăng hoạt động đều, mặc dù gặp khó khăn: sân hẹp, CH.53 là loại máy bay trực thăng lớn, nặng, mỗi chiếc phải chở tới 70 người, mức trọng tải cao nhất. Nhiều lần, gió cuốn suýt gây ra tai nạn...

Ở Tòa Bạch Ốc, Kissinger báo cáo với tổng thống Ford: Phái bộ quân sự đã hoàn thành việc di tản. Hơn 4.500 người đi bằng máy bay trực thăng trong đó có 450 người Mỹ. Đó là một thành công rực rỡ mặc dù có mất mát.

Chúng tôi chỉ còn 12 người trong tổng số ba trăm nhân viên tình báo CIA ở Việt Nam. Tôi nhìn lại lần cuối cùng bàn làm việc của tôi. Tất cả 12 người chúng tôi xếp hàng, dọc cầu thang lên mái nhà, chung quanh xúm xít người Việt Nam. Tôi không có can đảm nhìn họ. Một thủy quân lục chiến hỏi chúng tôi có vũ khí không. Nếu có phái để lại. Có nhiều tiếng phản đối khi nghe lệnh ấy nhưng không ai giữ lại súng nữa. Polgar rút khẩu súng Browing ra, ngắm nghía một lát, rồi thở dài, thất vọng: "Tôi phải ở lại, đại sứ cũng muốn ở lại một lúc nữa, chờ cho người Việt Nam ở trong ngôi nhà này đi hết mới lên đường. Tôi ở lại và cùng đi với đại sứ. Quay lại, ông nói với Pittman, người phó của ông: "Anh cũng nên ở lại". Pittman gật đầu đặt vali xuống. Polgar quay ra phía tôi: "Anh giúp bạn Việt Nam tôi lên máy bay. Tôi hỏi lại: "Ông có cần tôi ở lại không?” - Không. Sở chỉ huy đã ra lệnh, mọi người đi cả. Tôi chỉ giữ Pittman và một nhân viên thông tin ở lại để liên lạc với Hoa Thịnh Đốn.

Schlesinger định rõ thời hạn: Giữa đêm phải ngừng cuộc di tản. Nghĩa là chỉ còn hai giờ nữa. Sáng hôm sau, sẽ tiếp tục bay. Bây giờ, 19 máy bay trực thăng sẽ đến sứ quán để đón tất cả người Mỹ ở đó, kế cả bản thân đại sứ. Martin trả lời một cách tiêu cực.

Trước 12 giờ đêm, Martin mặt trắng bệch ra sân sứ quán. Cùng với mấy cộng tác viên, ông cho gọi người Mỹ vào trong nhà. Chú lính thủy quân lục chiến vừa được tin của đài cộng sản loan báo cuộc tiến công vào Sài Gòn bắt đầu. Ngoài sân, đại tá Madison và bốn sĩ quan nữa thuộc ủy ban quân sự hỗn hợp đi qua đám đông. Đại tá Sumniers, người phó của ông, vớ lấy máy phát thanh: "Bình tĩnh, bình tĩnh. Chúng tôi ở lại đây, và sẽ đi sau bà con".

3 giờ 45 phút, kết thúc cuộc di tản, Martin đi ra sân sứ quán, nhìn nhanh đám đông, ra hiệu cho đại tá Madison: "Những người Việt Nam còn lại sẽ đi bằng máy bay CH.53. Ai còn chờ trong sứ quán thì ra sân đợi. Cầu hàng không trên mái nhà dành riêng cho người Mỹ”.

Ở đằng kia cầu hàng không, Gays và Whitmire đã quyết định chấm dứt trò chơi của Martin. Các ông hiểu rằng đại sứ cứ muốn lùi dần giờ kết thúc, mỗi lần Martin đều viện cớ còn quá nhiều người Việt Nam v.v... Mà lệnh của Tòa Bạch Ốc rất rõ ràng: Cầu hàng không ngừng lúc bản thân Martin chưa được di tản!

John Pittman đang ngồi ngủ trong phòng làm việc của đại sứ. Trung tá Kean vào đánh thức anh dậy, anh chìa bức điện của Tòa Bạch Ốc ra: Tổng thống ra lệnh cho đại sứ phải đi chuyến này! Martin nhún vai, cầm vali, nói với mọi người: "Xong, ta đi" rồi tiến đến cầu thang máy. Nhiều cộng tác viên đi theo: Polgar, Pittman, Jacobson, John Bennett thuộc cơ quan AID, Joe Bennett, cố vấn chính trị và Brunson Mc Kingsley, Lehmann, Boudreau và Jim Devine chờ chuyến sau.

Ở Hoa Thịnh Đốn, Henry Kissinger vừa bắt đầu cuộc họp báo mà ông đã hoãn mấy lần. Ông báo tin cuộc di tản tất cả những người Mỹ ở Sài Gòn đã hoàn thành tốt đẹp. Thực tế hãy còn lính thủy quân lục chiến trong sứ quán. Kissinger quyết định không nêu chi tiết ấy. Cuộc họp báo vừa kết thúc, ông vội vàng nhảy bổ vào phòng làm việc nổi cơn điên lên. Ông thét lớn: Đưa ngay thủy quân lục chiến ở Sài Gòn ra! Ông vừa tuyên bố cuộc di tản thành công rực rỡ, nếu để chết một người, ông sẽ giết...! .

7 giờ 30 phút (sáng 30.4.1975), giờ Sài Gòn, nhóm của Kean đóng chặt cánh cửa đồ sộ bằng gỗ sến của sứ quán, hạ màn sắt xuống và vội vàng chạy đến cầu thang phụ. Ở lầu một và lầu bốn, họ ném lựu đạn cay vào cầu thang máy và kéo hàng rào thép gai ra ngăn cầu thang. Nhưng đúng lúc họ bước lên trên bậc cuối cùng để lên mái nhà thì những người Việt Nam nổi giận ở ngoài sân đã phá được cửa tầng dưới và chạy lên đuổi họ. Thủy quân lục chiến khóa được cửa lên mái nhà và ra chỗ máy bay đậu.

Nhưng lúc người lính cuối cùng vào được ca bin máy bay thì cũng là lúc người Việt Nam leo tới mái nhà. Và khi họ nhảy bổ vào gầm bánh máy bay thì máy bay bay lên cao. Lúc bấy giờ là 7 giờ 53 phút giờ Sài Gòn.

(Trích từ tr. 508 – 562)

Ngày 19.4.2011

Lữ Giang

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011

Tin cần đọc

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy & Linh Mục Cao văn Luận:

Bí Ẩn 30.4.1975

1) Mở đầu

Đối với đa số người Việt đã từng sống trải qua, ngày 30.04.1975 là một biến cố đau thương nhứt của một đời người. Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy - một bình luận gia am tường mọi biến chuyển quốc tế, từng nổi tiếng với những bài nhận định thời cuộc "Tình hình thế giới trong tháng vừa qua" đăng tải trên nhiều tờ báo tại Âu Mỹ - đã đề cập công khai trực tiếp hoặc kín đáo gián tiếp trả lời những câu hỏi về biến cố lịch sử đặc biệt nêu trên.

Từ hồi còn là sinh viên, chúng tôi được tiếp xúc với Giáo sư Huy và đã may mắn có nhiều dịp hàn huyên đối thoại ghi nhận được những chi tiết rất đặc biệt. Sau khi Giáo sư Huy qua đời vào ngày 28.07.1990, chúng tôi đã đảm trách nối tiếp Giáo sư Huy hàng tháng viết bài nhận định thời cuộc "Tình hình thế giới trong tháng vừa qua" kéo dài trên 5 năm trên nguyệt san Tự Do Dân Bản tại Hoa Kỳ. Nhân dịp đó, chúng tôi đã phải nghiên cứu các sáng tác của cố Giáo sư để nắm vững thêm mọi vấn đề. Nhờ vậy, chúng tôi mới cảm nhận và thấy được tầm kiến thức rất uyên bác, rất đa diện của Giáo sư Huy mà hiếm ai cùng thời có được (xin xem thêm phần phụ lục phía dưới về tiểu sử). Nổi bật nhứt là những viễn kiến và phân tích độc đáo về các biến cố lịch sử trên thế giới.

2) Ai đã gây ra thảm họa 30.04.1975?

Câu hỏi lịch sử này cũng đã được bàn cãi sôi nổi từ 35 năm qua và chưa đi đến một kết luận nào hữu lý để được mọi khuynh hướng chấp thuận. Điển hình nhứt là ngay trong dịp Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 vừa qua quy tụ gần 200 nhân vật với thành phần nổi tiếng như cựu Đại sứ Bùi Diễm, cựu Đại tá không quân Hoa Kỳ Tiến sĩ Stephen Randolph, Trung tá biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, Thứ trưởng John Negroponte, Sử gia Dale Andrade, Tiến sĩ John Carland, Cựu Bộ trưởng Hoàng Đức Nhã, Đại tá Trần Minh Công, Đại tá Hoàng Ngọc Lung... cũng không đưa ra được câu trả lời thỏa mãn cho sự thắc mắc: Ai đã gây ra thảm họa 30.04.1975?

Nhìn trở lại, người ta có thể thấy rõ ràng trong thời gian đầu ngay sau 30.04.1975, phần lớn các khuynh hướng, từ chính trị đến tôn giáo, đều tìm cách đổ trách nhiệm lẫn cho nhau về tội đã làm mất miền Nam. Chỉ có Giáo sư Huy là sớm thấy rõ nguyên nhân chính nào đã khiến xảy ra thảm họa 30.04.1975. Trong dịp tái ngộ cùng Giáo sư Huy vào năm 1982, chúng tôi có hỏi đến vấn đề nhức nhối này và được Giáo sư Huy trả lời cho biết nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch giải kết (bỏ mọi cam kết bảo vệ miền Nam!) để từng bước rời bỏ miền Nam VNCH. Tuy nhiên thảm họa 30.04.1975 xảy ra bất ngờ hơn mọi người đã dự đoán bởi vì vụ xì căng đan Watergate dẫn tới sự từ chức của Tổng Thống Nixon vào ngày 9.8.1974 đã làm tê liệt mọi cố gắng để cứu vãng tình thế.

Về thế lực nào ở Hoa Kỳ đứng sau kế hoạch bỏ rơi miền Nam, Giáo sư Huy cho biết trên chính trường Mỹ có hai sắc tộc nổi bật nhứt. Đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan (Ireland) và sắc tộc gốc Do Thái.

- Trong dòng lịch sử, Cộng Đồng Người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan đã rất nhiều lần thắng cử chức vụ Tổng Thống.

- Bên cạnh đó Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái chủ trương nắm giữ các cơ cấu quan trọng trong guồng máy điều khiển đất nước Hoa Kỳ. Họ gài được nhiều nhân sự vào bên hành pháp cũng như lập pháp. Trong các bộ quan trọng nhứt như ngoại giao, quốc phòng và tài chánh thường thấy đa số có nhân viên gốc Do Thái và nhiều lần cấp bộ trưởng cũng do người Mỹ gốc Do Thái nắm giữ. Trong Thượng Viện và Hạ Viện có khá nhiều nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái trong cả hai chính đảng. Vì vậy, thế lực của Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái rất lớn và đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.

Tham dự Hòa đàm Paris, Giáo sư Huy nhận xét rằng Kissinger (một người Mỹ gốc Do Thái lúc đó còn làm Cố Vấn An Ninh cho Tổng Thống Nixon) có thái độ đáng ngờ là cương quyết muốn thỏa hiệp riêng ("đi đêm"!) với CSVN bất cứ giá nào để quân đội Hoa Kỳ rời bỏ miền Nam, dù biết rằng sau đó miền Nam sẽ lọt vào tay Hà Nội. Theo kinh nghiệm chính trị thì các chính trị gia gốc Do Thái đều hành động có chủ đích với kế hoạch rõ rệt. Như vậy đằng sau Kissinger ắt phải là chủ trương của thế lực Do Thái.

Thế lực Do Thái này phải hiểu là không phải chỉ thuần túy Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái, mà là sắc dân Do Thái trải dài trên thế giới từ Tel Aviv đến Washington D.C., Paris, London, Berlin, Moscow... với tổng số 13,1 triệu người, trong đó 5,4 triệu tại quốc gia Do Thái, 5,3 triệu tại Hoa Kỳ và 2,4 triệu rải rác tại 30 quốc gia khác. Thế lực này được điều khiển hữu hiệu từ Tel Aviv với 2 bộ phận đắc lực gồm cơ quan tình báo Mossad và Nghị Viện Do Thái Thế Giới ( - World Jewish Congress - từ năm 2007 đứng đầu là nhà tỷ phú nổi tiếng Ronald Stephen Lauder người Mỹ gốc Do Thái ) . Ngoài ra, Giáo sư Huy còn chỉ dẩn cho chúng tôi nhận biết được dân gốc Do Thái đặc biệt thường với mũi to loại diều hâu, điển hình như Ngoại trưởng Kissinger hoặc Nữ Ngoại trưởng Albright.

Những tiết lộ tế nhị của Giáo Sư Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao văn Luận (1908 - 1986) nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử cũng cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân ra khỏi Việt Nam.Riêng dư luận báo chí quốc tế đã sớm nhìn thấy rõ Hoa Kỳ muốn rút lui bỏ rơi miền Nam từ khi bắt đầu chánh sách Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 (mà họ phân tích là nhằm thay đổi màu da tử sĩ!), nhứt là hòa đàm Paris (mà họ nhận định là nhằm bảo đảm Mỹ rút quân được an toàn!).

Như vậy thảm họa 30.04.1975 đã xảy ra, nguyên nhân chính là Hoa Kỳ có chính sách bỏ rơi miền Nam VNCH và thế lực Do Thái thúc đẩy chính sách đó được thực hiện qua Kissinger.

3) Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam?

a) Thế lực Do Thái tại Hoa Kỳ

Đối với chúng tôi quả thực hoàn toàn mới mẻ và đầy ngạc nhiên khi được Giáo sư Huy vào năm 1982 cho biết đến vai trò thực sự của người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan và gốc Do Thái trên chính trường Hoa Kỳ. Sau này sinh hoạt lâu năm tại Hoa Kỳ và qua nghiên cứu, chúng tôi công nhận thấy Giáo sư Huy hoàn toàn đúng.

Điển hình là cho đến nay có ít nhứt 23 Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Ái Nhĩ Lan (xem website: http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Irish_Americans) mà trong đó có Tổng Thống Washington và những Tổng Thống gần đây như Clinton, Reagan, Kennedy và kể cả Tổng Thống Obama (bên ngoại gốc Ái Nhĩ Lan)

Cũng như hiện nay tại quốc hội có 15 Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ gốc Do Thái và 33 Dân Biểu Liên Bang gốc Do Thái (xem website http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Jewish_American_politicians#List). Thực sự nếu nghiên cứu sâu rộng thì sẽ thấy thế lực Do Thái tại Mỹ còn lớn hơn nhiều. Họ thành công trong việc gài được những nhân sự cấp lãnh đạo ở các bộ phận yết hầu của Hoa Kỳ. Thí dụ điển hình gần đây như:

- trong Thượng Viện và Hạ Viện hiện nay với tổng số 48 nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái (so sánh chỉ có 1 dân biểu gốc Việt Nam là ông Cao Quang Ánh!).

- trong Bộ Ngoại Giao có Bộ trưởng Henry Kissinger dưới thời TT Nixon và Bộ trưởng Madeleine Albright dưới thời TT Clinton...

- trong Bộ Quốc Phòng có Bộ trưởng James Schlesinger dưới thời TT Nixon và thời TT Ford.

- trong Bộ Tài Chánh có Bộ trưởng Larry Summer và Bộ trưởng Robert Rubin dưới thời TT Clinton.

- trong CIA có Tổng giám đốc John M. Deutch dưới thời TT Reagan.

- trong Ngân Hàng Trung Ương (Fed) cầm đầu bởi Tiến sĩ Alan Greenspan từ 1987 đến 2006 và Giáo sư Ben Bernanke từ 2006 đến nay.

Họ còn chủ động nắm những lãnh vực ngân hàng, thị trường chứng khoán, báo chí, truyền thanh, truyền hình, và điện ảnh...

Đặc biệt, ngành truyền thông, quan trong nhứt là điện ảnh Hollywood, nằm trong tay thế lực Do Thái. Tại Hollywood đa số nhân sự từ đạo diễn đến diễn viên đều có gốc Do Thái, nổi tiếng nhứt như Steven Spielberg, Liz Taylor, Kirk Douglas, Michael Douglas, Harrison Ford... (xem website: http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Jewish_American_entertainers). Họ biết rõ rằng nắm được truyền thông trong tay là hướng dẫn được dư luận quần chúng trong mục tiêu phục vụ quyền lợi cho nguời Do Thái. Họ còn điều khiển một phần lớn các viện nghiên cứu chiến lược nhằm đưa ra những đề nghị cho chính sách tương lai cho chánh phủ Mỹ và dĩ nhiên phải phù hợp với quyền lợi của người Do Thái.

Ngoài ra tại các cường quốc Âu Châu, thế lực Do Thái có ảnh hưởng tuy âm thầm nhưng cũng mạnh mẽ lắm . Điển hình nhứt là Tổng Thống Sarkozy ( Pháp ) & Thủ Tướng Đức Schmidt ( Đức ) đều gốc Do Thái nên không bao giờ lên tiếng thực sự chống lại những vi phạm cam kết của Do Thái tại Trung Đông . Chính vì vậy đa số thành viên Liên Hiệp Quốc đã cho rằng thế lực Do Thái có ảnh hưởng quá lớn đến chính sách và biểu quyết về Trung Đông của các cường quốc Âu Mỹ .

b) Tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam?

Muốn biết rõ, chúng ta phải tìm hiểu lịch sử mất nước và dựng lại nước của người Do Thái. Vào năm 135 dân tộc Do Thái chính thức bị mất nước và phải lưu vong khắp nơi vì đế quốc La Mã. Thảm họa mất nước đó thường được dư luận Thiên Chúa Giáo cho là sự trừng phạt dân Do Thái đã đóng đinh giết Chúa Jesus và kẻ phản bội Judas chính là một người Do Thái. Chính vì chuyện này đã làm cho dân Do Thái bị kỳ thị trên bước đường lưu vong. Nhưng cũng chính vì có niềm tin mãnh liệt vào Do Thái Giáo, họ đã đoàn kết nhau lại dưới sự lãnh đạo của học giả Theodor Herzl trong đại hội thế giới đầu tiên tại Basel (Thụy sĩ) vào năm 1897. Từ đó, từng đợt một họ lén lút trở về quê hương Palestine. Thế Chiến thứ 2 và với sự yểm trợ tích cực của Hoa Kỳ đã tạo cơ hội ngàn năm một thuở để họ dựng lại đất nước vào ngày 14.5.1948 sau gần 2,000 năm lưu vong. Chỉ 11 phút sau đó Tổng Thống Hoa Kỳ đã lên tiếng công nhân quốc gia mới này, bất chấp mọi chống đối của thế giới Ả Rập và đã yểm trợ hữu hiệu cho Do Thái chống lại cuộc tấn công ngay sau đó của các quốc gia Ả Rập láng giềng và trong các cuộc chiến xảy ra sau này.

Như vậy, Do Thái còn tồn tại đến ngày nay là nhờ Hoa Kỳ làm "lá bùa hộ mạng". Nhiều nghị quyết tại Liên Hiệp Quốc kết án Do Thái vi phạm cam kết tại Trung Đông chỉ vì duy nhứt Hoa Kỳ dùng quyền phủ quyết (veto) nên đành phải bỏ đi. Trong quá khứ, Hoa Kỳ từng giải kết (phản bội!) bỏ rơi đồng minh như Lào, Cam Bốt, Việt Nam, Đài Loan... , nhưng luôn luôn "sống chết" hết lòng với Do Thái, mặc dù quốc gia nhỏ bé này không mang lại lợi ích gì về tài nguyên hoặc vị trí chiến lược cho Hoa Kỳ, mà trái lại chính vì Do Thái, Hoa Kỳ còn gây rất nhiều hiềm khích (mang họa vào thân!) với thế giới Hồi Giáo dân số rất đông đảo (1,3 tỷ) và rất quan trọng về năng lượng dầu hỏa . Tất cả cho thấy rõ ràng vì thế lực Do Thái nắm giữ được các bộ phận huyết mạch tại Mỹ nên chính sách của Hoa Kỳ phải luôn luôn không được đi trái ngược lại với quyền lợi của quốc gia Do Thái.

Từ đó, chúng ta mới hiểu rõ tại sao thế lực Do Thái muốn Hoa Kỳ phủi tay bỏ miền Nam Việt Nam. Đó là vì họ sợ Hoa Kỳ sa lầy và sự tốn kém khổng lồ tại chiến trường Việt Nam có thể đưa tới hậu quả Hoa Kỳ không còn khả năng giúp đỡ một cách hiệu lực nước Do Thái tồn tại như trong quá khứ Hoa Kỳ đã từng làm. Cho nên họ chủ trương Hoa Kỳ phải giải kết bỏ rơi miền Nam để trở về chuyên tâm lo cho Do Thái. Để thực hiện mục tiêu này họ đã có kế hoạch rõ ràng từng bước một.

c) Kế hoạch Do Thái thúc đẩy Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam.

Khởi đầu giải quyết cuộc chiến Quốc Cộng tại Lào vào đầu thập niên 1960, ông Ngô Đình Nhu đã ngạc nhiên và bất mãn thấy thái độ nhượng bộ quá mức của ông Averell Harriman (đặc trách bộ phận Viễn Đông của Bộ Ngoại Giao Mỹ) trong lúc đàm phán. Nên biết ông Averell Harriman (1891 - 1986) là một nhà tư bản lớn nổi tiếng gốc Do Thái và cũng là một đảng viên cấp lãnh đạo của đảng Dân Chủ ở Mỹ. Rõ ràng phía thế lực Do Thái muốn ngăn chận không cho Hoa Kỳ can thiệp với nhiều tốn kém ở Viễn Đông. Sự nhượng bộ rút lui này đã khiến lực lượng CSVN kiểm soát được phần lớn các địa điểm chiến lược tại Lào và thiết lập đường mòn Hồ Chí Minh vận chuyển nhân lực và võ khí vào để đánh chiếm miền Nam vào 30.4.1975.

Từ khi nhậm chức, Tổng Thống Johnson (dân Texas!) cùng ban tham mưu luôn cứng rắn chủ chiến và không muốn Hoa Kỳ bị thua trận đầu tiên trong nhiệm kỳ của mình. Thế lực Do Thái lúc đó không có ảnh hưởng nhiều trong chánh phủ Tổng Thống Johnson để xoay đổi từ bên trong chính sách can thiệp quân sự của Tổng Thống Johnson, cho nên họ phải chờ đợi cơ hội thuận tiện để tấn công từ bên ngoài dư luận quần chúng.

Đó là lúc cuộc chiến Việt Nam bùng nổ lớn bắt đầu từ cuối năm 1964 trở đi với các trận đánh dữ dội tại Bình Giã, Đồng Xoài, Đức Cơ... bắt đầu gây tử thương nhiều quân nhân Mỹ. Những hình ảnh quan tài phủ quốc kỳ kèm theo sau hình ảnh dã man và bất lợi ( thổi phồng vụ Mỹ Lai & vụ Tướng Nguyễn Ngọc Loan! ) của chiến tranh được hệ thống truyền thông Hoa Kỳ -đa số gốc Do Thái quản trị- khai thác triệt để ngày đêm tạo một phong trào phản chiến lớn mạnh chưa từng thấy trên thế giới, không những tại Hoa Kỳ mà còn lan rộng khắp nơi trên nhiều quốc gia khác .

Tướng độc nhởn Moshe Dayan -Bộ trưởng Quốc phòng của Do Thái- đột ngột tự qua Việt Nam 3 ngày (từ 25 tới 27 tháng 7 năm 1966) và cho báo chí chụp bức hình biểu diễn đang đi hành quân với lực lượng Hải Quân Mỹ. Sau chuyến "hành quân" chớp nhoáng đó, Tướng độc nhởn Moshe Dayan viết ngay đề nghị Mỹ nên rút quân ra khỏi Việt Nam vì không thể thắng cuộc chiến này được ( rất là vô lý vì thực sự hiện diện xem xét chiến trường VN chỉ có 1 ngày , mà dám đưa ngay đề nghị khủng khiếp như vậy ! ) . Dĩ nhiên lời đề nghị chủ bại này càng được thổi phồng bởi phong trào phản chiến và làm mất uy tín Tổng Thống Johnson. Tiếc thay sau này và mới năm ngoái đây, vẫn còn có những ký giả và bình luận gia Việt Nam ca ngợi những phân tích và đề nghị của ông tướng một mắt này, mà không hiểu đó chính là một trong những thủ phạm đã góp phần "khai tử" miền Nam!

Phong trào phản chiến càng lên cao và đã khiến Tổng Thống Johnson vào tháng 3 năm 1968 phải quyết định không ra tái ứng cử. Sự xáo trộn tranh chấp kịch liệt trong đảng Dân Chủ đã tạo cơ hội hiếm có để cho ứng cử viên của đảng Cộng Hòa nắm chắc sự thắng cử. Vì vậy thế lực Do Thái đã gài được Kissinger từ năm 1957 làm cố vấn cho Nelson A. Rockefeller (Thống đốc New York) đang vận động ra tranh cử làm ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa. Nhưng không ngờ Nixon thành công hơn và cuối cùng thăng cử làm Tổng Thống. Thấy vậy, Kissinger bèn trở cờ đầu quân theo Nixon và được trọng dụng làm Cố vấn An ninh.

Thế lực Do Thái còn đưa được thêm nhân sự gốc Do Thái vào trong guồng máy cầm quyền Mỹ. Đáng kể nhứt là Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger, Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann (1925 - 1999)... Với những chức vụ then chốt này, họ đã thành công bày mưu cho Nixon bỏ rơi miền Nam. Bắt đầu với chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 để từng bước giảm con số lính Mỹ tử vong và bớt dần sự hiện diện của Hoa Kỳ tại miền Nam.

Đến năm 1971, Kissinger bí mật qua Trung Hoa tìm cách tái bang giao với chính quyền Bắc Kinh và đưa đến thỏa hiệp Thượng Hải 1972 giữa Mao Trạch Đông và Nixon. Trên bề mặt, thỏa hiệp này chỉ công nhận một nước Trung Hoa cho thấy Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan trên chính trường thế giới, nhưng bên trong thực tế Kissinger nhằm sửa soạn sự rút lui an toàn cho quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam với sự bảo đảm của Trung Cộng.

Quả nhiên, chỉ sau đó chưa đầy một năm, Kissinger đã dùng đủ mọi mánh khóe, kể cả đe dọa tánh mạng các cấp lãnh đạo VNCH, thành công trong việc ép buộc VNCH ký kết Hiệp Định Paris vào ngày 27.1.1973 để quân đội Hoa Kỳ được an toàn rời khỏi miền Nam. Phía dư luận báo chí quốc tế đã sớm thấy rõ âm mưu của Kissinger và đã ví bản hiệp định này giống như tờ khai tử cho miền Nam Việt Nam.

Chính ngay Kissinger cũng đã tiết lộ bề trái của bản hiệp định cho Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann của T.T Nixon như sau:

"Tôi nghĩ rằng nếu họ (chánh phủ VNCH) may mắn thì được 1 năm rưỡi mới mất".Tương tự , Kissinger đã trấn an T.T Nixon là:

“ Hoa Kỳ phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó thì …chẳng ai cần đếch gì nữa . Vì lúc ấy, Việt nam sẽ chỉ còn là bãi hoang vắng ”.

Bởi vậy thảm họa 30.4.1975 xảy ra là điều tất nhiên đúng như tính toán dự trù của Kissinger và thế lực Do Thái.

Chỉ sau Hiệp Định Paris khoảng 9 tháng, cuộc chiến Jom Kippur vào ngày 6.10.1973 giữa Do Thái và các quốc gia Ả Rập láng giềng xảy ra. Lần đầu tiên trong lịch sử tái lập quốc, Do Thái bị thua trận và mất một số lớn phần đất chiếm đóng trước đây. Đáng lẽ Do Thái còn có thể bị thua nặng nề hơn nữa, nhưng giờ chót nhờ có Kissinger thuyết phục được Nixon nỗ lực can thiệp giúp Do Thái nên tình thế không còn bi đát nhiều. Tuy nhiên, sau đó Tướng độc nhỡn Moshe Dayan phải từ chức Bộ trưởng Quốc phòng vì chịu trách nhiệm bị thua trận.

4) Kết luận

Biến cố thua trận lần đầu tiên Jom Kippur năm 1973 cho thấy thế lực Do Thái nhìn rất xa và rất có lý với nỗi lo sợ Hoa Kỳ vì bị sa lầy ở chiến trường Việt Nam nên không còn có thể chuyên tâm giúp cho Do Thái thắng trận như trước đây. Cho nên không gì ngạc nhiên khi thế lực Do Thái phải vận dụng toàn diện từ trong lẫn ngoài để thúc đẩy và buộc giới lãnh đạo Hoa Kỳ phải bỏ rơi miền Nam.

Bí ẩn về lý do và động lực thúc đẩy Hoa Kỳ phải rút quân bỏ rơi miến Nam được che dấu tinh vi không đưa ra dư luận nổi , bởi vì phần lớn hệ thống truyền thống báo chí quan trọng nằm trong tay thế lực Do Thái hoặc bị họ ảnh hưởng kiểm soát không cho phép làm hoặc sợ bị mang tiếng bài Do Thái ( Anti-Semitism ) . Cho nên đến 35 năm sau dư luận vẫn còn bị xí gạt.

Điển hình , về phía dư luận ngoại quốc vẫn còn có những học giả ( thí dụ : Tiến sĩ Stephen Randolph trong Hội Thảo "Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại" (“Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”) tại Washington D.C. vào ngày 9.4.2010 ) lầm lẫn hoặc cố tình cho rằng Hoa Kỳ vào năm 1972 muốn tái lập bang giao với Trung Cộng nên phải rút quân ra khỏi miền Nam ( chịu thua ! ) vì đang câu con cá to hơn ( “has bigger fish to fry” ) . Thực tế Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ rơi miền Nam từ khi Kssinger bước vào Tòa Bạch Ốc năm 1969 với gia tăng Việt Nam Hóa Chiến Tranh .

Về phía Cộng Sản Bắc Việt , ngoại trừ lợi thế sẵn có của đường lối độc tài cuồng tín trong chiến tranh dám vô nhân đạo dùng chiến thuật biển người hy sinh " nướng quân" hàng loạt trên chiến trường ( theo nhận xét của Tướng Westmoreland ! ) , họ không ngờ có được sự giúp đỡ hữu hiệu của thế lực Do Thái tạo ra phong trào phản chiến đưa tới tình trạng " Đồng Minh tháo chạy " ( từ ngữ theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Đức !) bỏ rơi VNCH . Thực tế , nếu không có sự phản bội của thế lực Do Thái qua sự nắm quyền của ê kíp Kissinger thì chưa chắc gì Cộng Sản Bắc Việt sớm thắng trận . Như vậy miền Nam chỉ cần cầm cự được vài năm cho đến khi Tổng Thống Reagan nắm quyền và với tài lãnh đạo xuất sắc cương quyết nổi tiếng của ông này chắc chắn miền Nam sẽ được yểm trợ đầy đủ ( đã xảy ra như vậy tại Nam Mỹ và A Phú Hản ! ) để không thể dể dàng rơi vào tay cộng sản như đã xảy ra trong ngày 30.4.1975.

Đa số người Việt chúng ta đều có tâm tình thiện cảm với dân tộc Do Thái ( một phần bị ảnh hưởng qua tác phẩm lừng danh " Về miền đất hứa / Exodus " của tác giả Leon Uris ) vì ngưỡng mộ tinh thần đoàn kết và chiến đấu dũng cảm của họ sau 2000 năm lưu vong đã thành công trở về tái dựng lại quốc gia Do Thái nhỏ bé bất chấp trước mọi đe dọa của Khối Ả Rập khổng lồ. Cũng trong cảm tình nồng nàn đó , Học giả Nguyễn Hiến Lê vào năm 1968 mang sức ra viết tác phẩm " Bài học Israel ( Do Thái ) " . Nhưng thực tế chính trị cho thấy tham vọng thủ đoạn của Do Thái sau khi tái lập quốc , nên chính ông đã không ngần ngại lên tiếng chỉ trích nặng nề. Đó cũng là tâm trạng của chúng tôi khi biết qua Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận khám phá ra mưu sâu của thế lực Do Thái khiến xảy ra thảm họa 30.4.1975 cho quê hương Việt Nam và dẩn tới hiểm họa mất nước vào tay Trung Cộng.

Chúng tôi tin rằng Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh mục Cao Văn Luận đã đi bước tiên phong đầu tiên tiết lộ những bí ẩn về thảm họa 30.4.1975 và trong tương lai sẽ được giới truyền thông báo chí chú tâm nghiên cứu khai

__._,_.___

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2011

Thông báo hội họp

Chàc các NT và các bạn 25ers & 26ers,
Sau đây là phần tường trình về buổi họp ngày 12 tháng 3,  năm 2011
1/ Đại hội SVSQHQ / Nha Trang sẽ được tổ chức tại San Jose, tuần lễ Labor Day 2011

    Saturday,  September 3, 2011: Picnic (ngày)
    Sunday,    September 4, 2011: Đại Hội (đêm)
2/ Đêm Đại Hội (các khóa 1 - 26 và quan khách)

Địa điểm: Unified Center - Still available, $3500       (Phúc K25)
Ẫm thực: Phú Lâm catering  (N/T Tuấn K15)
Full band: Cao Trầm             (N/T Tuấn K15)
Singers (local only)               ( ? )
Video (Phúc K25 + pictures / videos từ mọi người)
3/ Môt ban tổ chức được thành lập
TB Tổ Chức:    N/T Nguyễn an Cường  (K14)
Các phụ tá:
Tài Chánh        N/T Vương thế Tuấn (K15)
Liên lạc            N/T Nguyễn hoàng Nguyên (K16)
Điều hợp chương trình đêm đại hội (văn nghệ, MC): 
Nguyễn Lô (K25)
Nghi lễ đêm đại hội : N/T  Ngô quang Nghi (K21)
Gây quỹ              Phạm công Hoàng (K26)
Thư Ký               Lê thái Phúc (K25)
4/  Kỳ họp tới là Friday,  18 tháng 3, 2011, lúc 8:00 PM tại nhà Phúc K. 25
Trân trọng tường trình.                                                     

Lê thái Phúc