Thứ Ba, 25 tháng 10, 2011

Con bài thí của Mỹ tạo

Chỉ là những con bài thí

Lữ Giang

Trong tháng 7, sự ra đi của hai cựu tướng lãnh VNCH đã được dư luận bàn tán khá nhiều, đó là Trung Tướng Đặng Văn Quang qua đời hôm 15.7.2011 tại Sacramento, California, hưởng thọ 82 tuổi, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ mệnh chung ngày 23.7.2011 tại Kuala Lumpur, Malaysia, hưởng thọ 81 tuổi.

Hình như ít ai muốn bàn đến Tướng Quang, vì cựu viên chức CIA Frank Snepp đã viết quá nặng về ông rồi. Đa số tập trung vào Tướng Kỳ. Ngoài cá tính, cuộc sống, những việc làm của ông dưới thời VNCH, nhiều người phê phán rất nặng chủ trương “hoà giải hòa hợp dân tộc” của ông. Nhưng nhìn chung, đa số đều viết hay nói theo cảm tính, theo xu hướng chung của người Việt chống cộng ở hải ngoại..., chưa ai nói lên được vai trò thật sự của hai tướng này trong ván bài chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ. Đây mới là vấn đề cần bàn để rút bài học lịch sử.

CON ĐƯỜNG MỸ ĐI

Chúng tôi xin nhắc lại, trước cuộc đảo chánh lật đổ ông Diệm năm 1963 hai ngày, Đại Sứ Cabot Lodge đã gởi về Washington một công điện trình rằng chiều 25.10.1963, ông Trần Trung Dung, cựu Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng, đã nói với viên chức CIA rằng ông được biết các tướng lãnh dự định làm đảo chánh trong vòng 10 ngày. Theo ông biết các tướng lãnh không tiếp xúc với các nhà lãnh đạo dân sự. Ông ta bày tỏ một vài sự quan tâm về khả năng và ý định của các Tướng Lãnh. Ông ta coi đa số các Tướng Lãnh không gì khác lơn là các trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng Lãnh (He consider majority of Generals no more than French trained sergeants in Generals’ uniforms”)... Các Tướng Lãnh thiếu kinh nghiệm chính trị cần thiết để điều hành chính phủ. (FRUS, Volume IV, tr. 457 – 458. Document 229).

Khi nói với CIA như vậy, có lẽ ông Trần Trung Dung tưởng rằng Mỹ không biết khả năng của các tướng mà họ đang dùng để làm đảo chánh. Nhưng ông đã lầm. Người Mỹ biết rất rõ chuyện đó, nên họ đã quyết định dùng các tướng này để làm công cụ thi hành chính sách của họ ở Việt Nam.

Sau khi lật đổ ông Diệm, người Mỹ cho Tướng Dương Văn Minh và ông Nguyễn Ngọc Thơ (Phó Tổng Thống của ông Diệm) làm chính phủ trái độn và để cho tình hình trở nên tồi tệ đến mức không còn cứu vãn được, rồi viện vào lý do đó, Mỹ cho hai tay chân bộ hạ là Tướng Nguyễn Khánh và Tướng Trần Khiêm lật đổ chính phủ Dương Văn Minh, lên cầm quyền và mở đường cho cho Mỹ đổ quân vào miền Nam. Sử gia George McT. Kahim của Mỹ đã gọi cuộc “chỉnh lý” ngày 30.1.1964 của Tướng Nguyễn Khánh là “The Pentagon’s coup”!

Theo tài liệu, Mỹ chỉ muốn Nguyễn Khánh làm quốc trưởng bù nhìn còn Trần Thiện Khiêm, một agent của Mỹ, làm thủ tướng và nắm thực quyền. Nhưng Tướng Khánh không muốn làm bù nhìn, bắt Tướng Khiêm phải đi ra ngoại quốc, và ông làm quốc trưởng kiêm luôn thủ tướng.

Lúc đầu người Mỹ rất bực mình về chuyện này. Nhưng khi thấy Tướng Khánh tỏ ra muốn trao quyền hành cho người Mỹ, Đại Sứ Lodge đã báo cáo về Washington rằng Tướng Khánh đã nói với ông: “Chúng tôi người Việt Nam muốn người Mỹ chịu trách nhiệm với chúng tôi chứ không phải chỉ là những cố vấn”. (We Vietnamese want the Americans to be responsible with us and not merely be advisers).

Nhưng khi đi nước cờ này, Mỹ đã gặp sự chống đối rất mạnh của Phật giáo vì hai lý do chính: (1) Phật giáo tưởng rằng Mỹ đã để cho “Cần Lao tái xuất giang hồ” vì Tướng Khánh và Tướng Khiêm vốn được coi là “con cưng của ông Diệm”. (2) Mỹ đã phá hỏng kế hoạch thành lập một chính phủ Phật giáo tại miền Nam của nhóm Thích Trí Quang. Thích Trí Quang đã nói với ông Lodge rằng “ông ta không coi Khánh như là một “Phật tử tốt” (good Buddist)!

Những trò múa rối của Tướng Khánh đã làm cho tình hình rối tung. Tướng Khánh phải đi ra ngoại quốc và một chính phủ dân sự do Phan Huy Quát làm thủ tướng và Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng được đưa ra làm trái độn trong khi chuẩn bị cho nhóm tay sai của Mỹ trở lại nắm chính quyền.

Khi tình hình rối loạn đến một mức không còn cứu vãn được, ngày 11.6.1965 Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát ra tuyên cáo giao trả Quân Đội trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia.

Lúc đó, có 4 “candidats” thuộc nhóm “Young Turks” có thể được chọn làm lãnh đạo quốc gia là Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Hữu Có và Chung Tấn Cang. Mỹ quyết định chọn Nguyễn Văn Thiệu thay Nguyễn Khánh và đưa Trần Thiện Khiêm về làm thủ tướng. Tuy nhiên, lúc đó nhóm Thích Trí Quang đang chủ trương tạo bạo loạn để cướp chính quyền nên Mỹ phải dùng Nguyễn Cao Kỳ dẹp loạn xong mới thực hiện được.

Ngày 19.6.1965, Hiến Ước mới được ban hành. Tướng Nguyễn Văn Thiệu được bầu làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (quốc trưởng) và Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (thủ tướng).

Tướng Đặng Văn Quang chỉ là một “agent” mới được CIA tuyển chọn sau này đưa vào làm phụ tá cho Tổng Thống Thiệu để theo dõi ông Thiệu.

Nhưng đau hơn cả là Tướng Dương Văn Minh, đã bị cả Đại Sứ Mỹ lẫn Đại Sứ Pháp dụ ra làm Tổng Thống trong những giờ cuối cùng của miền Nam, được nói là để thương lượng với Bắc Việt và thành lập một chính phủ trung lập ở miền Nam, nhưng thật sự là để tuyên bố đầu hàng.

CON CHỐT ĐẶNG VĂN QUANG

Bài viết về Tướng Đặng Văn Quang rất ít, mặc dầu tài liệu nói về sự lộng quyền và tham những của Đặng Văn Quang khá nhiều. Trong cuốn “Decent Interval”, Frank Snepp, trưởng phân tích của CIA tại Sài Gòn trước 30.4.1975, đã phê phán Đặng Văn Quang rất nặng. Ông nói rất tiếc là Mỹ đã biến Đặng Văn Quang thành “người giàu có và có thế lực” và “trở thành những biểu tượng về tham nhũng và thoái hóa theo lối Mỹ, điều đó sau cùng đã cung cấp cho Cộng Sản vũ khí tốt nhất để tuyên truyền”. Ông lên án Đặng Văn Quang là “kẻ phản bội”. Người Mỹ đã trả cho ông nhiều tiền để lấy tin tức từ dinh Độc Lập, nhưng nhận được rất ít tin từ Quang. Nhờ các máy nghe lén gắn trong dinh Độc Lập, Mỹ mới theo dõi được các hoạt động của ông Thiệu. Ngay cả khi Thiệu họp tại Cam Ranh ngày 14.3.1975 đưa ra quyết định rút khỏi Cao Nguyên, Quang cũng không báo cho Mỹ biết. Vì thế Quang bị sa thải ngay và số phận trở thành bi thảm.

Trong cuốn “Việt Nam Nhân Chứng” Tướng Trần Văn Đôn nói tại miền Nam, Tướng Đặng Văn Quang đứng hàng thứ 4 sau Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, nhưng trong thực tế Quang có quyền lực gần như vô giới hạn. Ngoài nhiệm vụ lo săn tin cho CIA, Đặng Văn Quang đã lợi dụng các chức vụ của mình để “kinh tài” cho ông Thiệu, trong đó có hai nghiệp vụ chính là đi thu hụi chết và buôn lậu. Quang được coi như một hung thần ở miền Nam và lúc đó chẳng ai dám động đến Quang. Khi cuộc điều tra buôn lậu bạc Việt Nam và thuốc tây... bán cho Việt Cộng đang được tiến hành, các viên chức điều tra phát hiện ra người cầm đầu đường dây là tay chân bộ hạ của Đặng Văn Quang, ngày hôm sau có lệnh phải ngưng điều tra ngay.

Trong bài “Drugs, Corruption, and Justice in Vietnam and Afghanistan: A Cautionary Tale” đăng trên New York Times ngày 27.10.2009, khi viết về chuyện tham nhũng ở Afghanistan, Merle L. Pribbenow, một cựu viên chức CIA, đã nhắc lại chuyện tham nhũng của Đặng Văn Quang ở Việt Nam như sau: “He was a paid agent of the CIA; and that he was Thieu’s “bag-man” for collecting corruption payments.”

Đài BBC ngày 21.7.2011 có phổ biến bài “Đời bi kịch của một vị tướng VNCH” do ông Đặng Văn Phú ở San Jose viết theo lối “huề cả làng” để gỡ gạc phần nào Tướng Quang, nhưng chẳng nói lên được gì. Chuyện Đặng Văn Quang quá nhiều, chúng tôi chĩ xin trích lại dưới đây một đoạn của Tướng Trần Văn Đôn nói về chuyện tham nhũng của Đặng Văn Quang:

“Lúc còn là dân biểu, chưa tham gia chính phủ tôi có một người bạn tên là Nguyễn Xích Hào. Ông Nguyễn Xích Hào có chức vụ khá quan trọng ở văn phòng Trung ương Air Việt Nam. Con ông Hào đủ điều kiện du học, nhưng sợ kẹt lời phê của ông Quang nên ông Hào nhờ tôi nói giùm với ông Quang. Tôi điện thoại yêu cầu ông Quang nếu không gì trở ngại thì phê cho họ đi cho kịp nhập học đầu niên khóa tại Mỹ. Ông Quang xin tên họ, số điện thoại, và hứa sẽ phê chuẩn. Khoảng mười ngày sau có dịp dự lễ mãn khóa trường Sĩ quan Cảnh Sát, gặp Quang tôi nhắc đến việc tôi nhờ, yêu cầu ông ấy lưu ý xét cho sớm. Ông Quang trả lời:

- Được! Được! Không có gì đâu!

Tôi về nhà, điện thoại cho ông Hào biết tin con ông ấy sẽ được phép đi. Ông Hào nói:

- Tôi cũng biết rồi! Tôi đã được giấy phép.

Mấy tháng sau, gặp tôi ông Hào nói:

- Tin cho anh biết thằng con tôi đã đi rồi! Tôi phải đưa một gạch (một triệu bạc Việt Nam) nó mới được đi chứ đâu phải dễ.”

CON BÀI THÍ NGUYỄN CAO KỲ

Nguyễn Cao Kỳ bị gọi nhập ngũ Khoá 1 Nam Định năm 1951. Ngày 23.12.1950, Nghị Định thành lập Trừơng Sỉ Quan Trừ Bị Thủ Đức ở miền Nam, và Trừơng Sỉ Quan Trừ Bị Nam Định ở miền Bắc. Khóa 1 sĩ quan trừ bị được gọi là Khóa 1 Lê Văn Duyệt đã diển ra tại 2 nơi vào cùng ngày 1.10.1951. Nguyễn Cao Kỳ đi nhập ngũ ở Nam Định, có 218 sĩ quan tốt nghiệp. Sau khi tốt nghiệp, ông được chọn đi đào tạo tại trường không quân Marrakech ở Maroc.

Trong cuộc đảo chánh năm 1963, vai trò của Nguyễn Cao Kỳ không có gì đáng nói. Vai trò của ông chỉ nổi bật khi Mỹ quyết định dùng ông làm thủ tướng để dẹp cuộc nổi loạn của Phật giáo. Để tăng thêm uy tín cho Tướng Kỳ, ngày 8.11.1965, Tướng Kỳ được mời qua thăm Nam Hàn, nơi đây ông được cấp Tiến Sĩ Danh Dự đại học Kyughui ở Hán Thành.

Tôi đã phỏng vấn Tướng Nguyễn Cao Kỳ trong 6 buổi tối liên tiếp, có anh Lê Vũ, chủ website Ký Con, quay phim thu hình. Tôi muốn tìm hiểu thêm cuộc dẹp loạn miền Trung và việc ông tranh chấp với Tướng Thiệu trong cuộc bầu cử năm 1967. Ông Kỳ đúng là ruột ngựa, có gì nói hết. Nhưng rất tiếc ông biết rất ít, những điều ông kể tôi đã biết hết rồi.

Tôi hỏi ông tại sao lúc đó Việt Nam lại đoạn giao với Pháp, ông ngập ngừng rối nói không hiểu tại sao lúc đó mình đã làm như vậy. Tôi hỏi về quyết định và kế hoạch hành quân dẹp Phật Giáo miền Trung, ông cho biết quyết định là do ông, còn kế hoạch hành quân giao cho Nguyễn Ngọc Loan!

Với chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc gia kiêm Giám Đốc An Ninh Quân Đội, Nguyễn Ngọc Loan nắm trong tay lực lượng an ninh và giải quyết các biến cố đã xẩy ra tại miền Nam. Tướng Kỳ chỉ nghe báo cáo và gật đầu mà thôi.

Tướng Nguyễn Ngọc Loan học trường Providence (Thiên Hữu) ở Huế, vừa đậu Tú Tài xong thì đi động viên, học khoá 1 Lê Văn Duyệt ở Thủ Đức, còn Nguyễn Cao Kỳ học ở Nam Định. Nguyễn Ngọc Loan được đi thụ huấn khóa phi công tại Trường Không Quân Salon-de-Provence ở Pháp.

Năm 1967, Tướng Kỳ lập liên danh với Luật sư Nguyễn Văn Lộc ra tranh cử Tổng Thống với Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Ngoài ra còn 10 liên danh khác.

Tướng Trần Văn Đôn cho biết, trong phiên họp tiền hội nghị, các tướng lãnh quyết định hai liên danh Thiệu – Kỳ phải nhập chung, Kỳ làm Tổng Thống, Thiệu làm Phó Tổng Thống. Nhưng tối đó Mỹ đi gặp một số tướng lãnh để bàn thảo và thuyết phục các tướng rằng Tướng Kỳ bồng bột, bốc đồng... không làm Tổng Thống được, nên sáng hôm sau các tướng lại quyết định Tướng Thiệu làm Tổng Tống vì lớn tuổi hơn và thâm niên hơn. Bù lại, Tướng Thiệu đồng ý giao cho người của Tướng Kỳ là Luật sư Nguyễn Văn Lộc làm Thủ Tướng. Ngoài ra, theo đề nghị của Tướng Nguyễn Đức Thắng, Hội Đồng Tướng Lãnh được thành lập do Tướng Kỳ làm chủ tịch. Hội đồng này có nhiệm vụ giám sát hành pháp. Nhưng khi đắc cử rồi, Tướng Thiệu không cần biết Hội Đồng Tướng Lãnh và nói chỉ thi hành Hiến Pháp. Tướng Thiệu tập trung mọi quyền hành nên chính phủ Nguyễn Văn Lộc chẳng làm được gì. Sau đó, Mỹ đưa Tướng Trần Thiện Khiêm về làm Bộ Trưởng Nội Vụ rồi làm Thủ Tướng thay Luật sư Nguyễn Văn Lộc.

(Xem Việt Nam Nhân Chứng, 1989, tr. 379 – 382).

Trong cuốn “Decent Interval” Frank Snepp nói rõ người được Mỹ chọn làm tổng thống “phải tuân theo chính sách của chính chúng tôi, vừa có những tay sai (agents) có chất lượng để thi hành chính sách đó.” Sở dĩ tướng Thiệu được chọn vì là “một viên tướng miền Nam bình thường và coi như phi chính trị (modest, supposedly non-political)”. Frank Snepp cho biết Mỹ đã “củng cố bằng mọi giá chính phủ Thiệu, để cho nước Mỹ có thế rút quân ra khỏi Việt Nam mà không sợ nổ ra một cuộc khủng hoảng chính trị mới”.

Với Tướng Kỳ, Frank Snepp viết: “Đại sứ Bunker không hề lo sợ về Kỳ và phe cánh của Kỳ. Dần dần, ông gạt được họ ra và chỉ nói về những vấn đề chính trị với Thiệu mà thôi. Một “cú ân huệ” (coup de grâce) đã đến với Kỳ trong cuộc tấn công của Cộng Sản năm 1968 khi một số trong các đồng minh thân tín đầy quyền lực của ông ta bị giết.”

Đó là một thái độ rất phủ phàng của người Mỹ đối với Tướng Kỳ, Tháng 6 năm 1968 tôi đang ở Washington và thường đến chơi với Tướng Nguyễn Chánh Thi. Một buổi sáng, ông kêu điện thoại cho tôi rất sớm và bảo tôi qua ăn sáng nói chuyện, Khi tôi vừa qua, ông vứt tờ Washington Post cho tôi và nói: “Tướng lãnh mình làm ăn như vậy đó, chẳng còn ra thể thống gì”. Tôi xem và thấy có bài loan tin Tướng Kỳ buôn thuốc phiện lậu. Tôi xem xong và nói với Tướng Thi: Chuyện này không có đâu. Mỹ muốn loại Tướng Kỳ nên nói như vậy. Trước đây Trung Tướng có đau mũi đâu, thế mà họ loan tin Trung Tướng đau mũi và bắt đi Hoa Kỳ chửa bệnh. Tướng Thi suy nghĩ một lúc và nói: “Anh nói đúng!”. Ngày 7.5.1968, khi đang chỉ huy hành quân ở khu đường Tự Đức, Đa Cao, Tướng Nguyễn Ngọc Loan bị cộng quân bắn trọng thương, gảy cả hai chân, con đường sự nghiệp của Tướng Kỳ và Tướng Loan coi như chấm dứt từ đó.

Ra hải ngoại, cuộc sống của Tướng Kỳ đã được đàn em và những người thân tín của ông mô tả khá đầy đủ. Ông chỉ tham gia vào chính trị khi lấy bà vợ thứ ba là bà Lê Hoang Kim Nicole, một người đàn bà được báo chí mô tả là “người buôn tổng thống”.

Trong những lần ngồì nói chuyện riêng với ông, tôi đã phân tích cho ông thấy, dù đối đầu với CSVN bằng chiến tranh lạnh hay bằng “diễn biến hòa bình”, người Việt quốc gia cũng đều bị Mỹ xử dụng như công cụ, mình chẳng làm được gì đâu. Ông cũng đồng ý với tôi như vậy, nhưng tướng quân khó “qua ải mỹ nhân”.

Bà Kim đã dẫn ông về Việt Nam dưới chiêu bài “sứ giả cho sự hoà giải và kết hợp đại đoàn kết dân tộc”, nhưng trong thực tế là đi làm “affair”. Bước đầu là đưa hai tập đoàn Andy Dye và Three về Việt Nam thiết lập sân golf ở khu du lịch Tuần Châu, Quảng Ninh, sau đó vận động mở sòng bài, v.v.

Dĩ nhiên, báo trong nước khai thác ngay sự ngây thơ của Tướng Kỳ để chơi đòn phản gián. Báo Tuổi Trẻ và báo Thanh Niên đã phỏng vấn ông tại khách sạn Sheraton ở Sài Gòn vào cuối năm 2004, và đăng lại trên hai tạp chí này. Căn cứ vào các bài phỏng vấn đó, các báo khác đưa ra những lời bình luận rất nặng nề, như Tướng Kỳ nói “Chúng tôi là những kẻ đánh thuê” hay “Quân đội miền Nam, không có ai đáng giá cả, kể từ ông Nguyễn Văn Thiệu...”, v.v.

Đọc những lời này ông Kỳ đã viết một lá thư yêu cầu báo Thanh Niên cãi chính, trong đó ông nói: “Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ tôi lại căn cứ vào một số ít phần tử xấu để mạ lỵ cả một tập thể to lớn đã từng chia xẻ ngọt bùi với tôi, mà tôi biết về họ một cách đầy đủ và tường tận.” Ông cho rằng “người viết bài báo trên quá ấu trĩ, không đủ tư cách, không đủ hiểu biết để đề cập đến một lãnh vực hết sức hệ trọng và tế nhị có liên quan đến một giai đoạn lịch sử của dân tộc”.

Chẳng có báo nào trong nước đăng bài cãi chính của ông. Ở hải ngoại tôi chỉ tìm thấy trên DCVOneline ngày 24.4.2005. Ông Kỳ vốn bạo mồn bạo miệng, nên khó mà biết chuyện gì đã thật sự xầy ra. Dĩ nhiên, người Việt chống cộng vốn tự xưng là “đi guốc trong bụng cộng sản”, đã chụp lấy ngay và “dạy cho ông Kỳ một bài học”.

NHÌN CON BÀI MỸ CHỌN

Nếu so sánh ông Kỳ với ông Thiệu, chúng tôi thấy hai ông đều yếu kém như nhau: Cả hai biết rất ít về cả chính trị lẫn quân sự, không có tầm nhìn chiến lược và không biết làm việc theo phương pháp khoa học.

Nhưng ông Kỳ hơn ông Thiệu là luôn hành động theo quyết định của tập thể. Mọi quyết định quan trọng đều được đưa ra ban tham mưu và ban cố vấn bàn rồi mới quyết định phải hành động như thế nào. Ông Kỳ không sợ Mỹ. Nhưng ông Kỳ có khuyết điểm nặng là không theo sát việc thi hành, để đàn em muốn làm gì thì làm.

Ông Thiệu trái lại, luôn bị ám ảnh bởi cái chết của ông Diệm mà ông là một trong những nguời có trách nhiệm chính, nên luôn sợ bị Mỹ giết. Có nhiều khi ông tranh luận với Mỹ rất gay cấn nhưng cuối cùng ông cũng làm theo ý họ.

Ông Thiệu lại có thói quen suy nghĩ và hành động theo cảm tính, hỏi ý kiến chỉ để lấy lệ, mọi chuyện đều do ông quyết định theo ý nghĩ riêng của mình, không cần biết tình trạng thật sự đang diễn biến như thế nào. Ông lại thường tìm cách tránh né trách nhiệm bằng cách đưa ra những chỉ thị mập mờ và nếu thất bại sẽ đổ trách nhiệm cho thuộc cấp.

Lúc 2 giờ chiều ngày 7.9.1963, Đại Sứ Cabot Lodge đã gởi cho Bộ Ngoại Giao một công điện kể lại lời ông Ngô Đình Nhu đã nói với ông như sau:

“Tôi báo động về những gì sẽ xẩy ra trong Quân Lực. Nếu tôi ra đi, Quân Lực sẽ nắm chính quyền. Bọn cóc nhái của CIA và USIS này sẽ phá hoại nỗ lực chiến tranh.”

Lời tiên báo này đã trở thành hiện thực. VNCH có một quân đội thiện chiến, có tinh thần chiến đấu cao, được trang bị đầy đủ, nhưng đã bị thất trận một cách nhanh chóng vì những tướng mà người Mỹ đưa ra lãnh đạo họ là những thành phần thiếu khả năng, thiếu tinh thần trách nhiệm, chỉ biết nhận viện trợ và thi hành chính sách của Mỹ.

Ngày 26.7.2011

Lữ Giang

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

Sau 40 năm bí mật của Hoa Kỳ

;

Sau 40 Năm Bí Mật

Hoàng Duy Hùng

Đầu mùa hè năm 2011, thế giới lên cơn sốt về việc Trung Cộng tạo căng thẳng ở Biển Đông thì ai nấy đều ngóng trông nơi Hoa Kỳ với niềm hy vọng Hoa Kỳ sẽ là cứu tinh giúp họ đối phó với mộng bành trướng của Trung Cộng.  Nhưng ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho giải tỏa (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan hơn 40 năm trước làm cho niềm tin của nhiều người nơi Hoa Kỳ tan thành mây khói.  Sau đó, National Security Archive ở George Washington University đưa ra thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại đi vào chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai càng làm cho nhiều người nhìn ra sự thật phũ phàng Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự làm hòa và giao thương với Trung Cộng.

Tài liệu này tung ra làm cho hồi ký của Kissinger xuất bản năm 1979 (The Memoirs) không còn giá trị vì nhiều điều trong hồi ký của Henry Kissinger viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Hồi ký của Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân. Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ là tối thượng cho dầu chính sách này đưa đến sự phản bội những đồng minh cũng như phải dấu diếm và lừa cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ.

Đầu thập niên 1970s, Hoa Kỳ thay đổi sách lược bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô buộc Hoa Kỳ phải hất Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Trung Cộng vào thay thế vị trí này. Cách đây 40 năm, Hoa Kỳ đã công nhận chỉ có một nước Trung Quốc, và Đài Loan cũng chỉ là một tỉnh của Trung Quốc với một thể chế đặc biệt!! Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này 40 năm và sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách này cho đến khi Đài Loan danh chính ngôn thuận thống nhất với Trung Quốc, và thường thì khi sự thống nhất xảy ra, Trung Quốc lúc đó có thể chế đa đảng. 

Tài liệu cũng cho thấy Trung Cộng đặt điều kiện giải quyết vấn đề Đài Loan đi đôi với giải quyết chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để cho Cộng Sản Việt Nam chiếm cả nước, và Hoa Kỳ phủi tay trong một thời gian vài thập niên bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng tạo ảnh hưởng. Tài liệu cho thấy khi ấy Bắc Việt rất bối rối và chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B52 bỏ bom ở Hà Nội, và nếu Hoa Kỳ tiếp tục bỏ bom thêm 2 tuần nữa thì Hà Nội có lẽ đã đầu hàng, nhưng vì đã thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom như một hình thức vất đi chiến thắng đang ở trong tầm tay!   Cũng vì chính sách này nên tháng Giêng năm 1974, Trung Cộng đưa hải quân đánh Hoàng Sa, Hải Quân VNCH chiến đấu và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu nhân đạo thôi thì Đệ Thất Hạm Đội nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu nhưng vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan ức tại Biển Đông.

Tại sao Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tiết lộ những bí mật này?  Có phải họ có lòng thành tiết lộ những bí mật đầy lừa lọc và phản trắc đối với các đồng minh của họ?  Bí mật lịch sử đã vén màn, liệu những đồng minh của Hoa Kỳ có còn tin tưởng nơi Hoa Kỳ như họ đã có trước đây?

Thật ra Hoa Kỳ ở trong tình thế không thể giữ bí mật lâu dài được nữa vì trước đây những chi tiết này đã rò rỉ ra ngoài hầu hết rồi và nếu cứ tiếp tục dấu diếm những điều mà mọi người đã đoán biết thì hệ quả của nó còn tai hại hơn cả việc tiết lộ.  Cách đây 40 năm, ông Daniel Ellsberg đã tiết lộ những bí mật này cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ.  Ngày hôm nay, Văn Khố Quốc Gia tung ra những tài liệu cách đây 40 năm chỉ là để xác nhận cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác, thôi, mọi người đừng đoán già đoán non nữa.

Ông Daniel Ellsberg là  người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago (sinh ngày 7/4/1931), là một người phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội.  Ông từng là nhân viên của RAND Corporation.  Rand là chữ viết tắt của Research and Development, một công ty bất vụ lợi chuyên phân tích tình hình cho Quân Đội Hoa Kỳ và Doughlas Air Company là một công ty chế tạo các vũ khí cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ.  Rand có 1600 nhân viên và trong 1600 nhân viên này có những người làm cho tình báo Hoa Kỳ.

Năm 1954, sau khi tốt nghiệp ở Harvard, Daniel Ellsberg gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ.  Ông ra trường đứng đầu lớp cả 1000 người.  Mang lon Thiếu Uý, ông trở thành tiểu đội trưởng.  Sau 2 năm phục vụ cho Hải Quân, ông được trở về công việc dân sự, ông tiếp tục học ở Harvard và tham gia giúp Rand chuyên phân tích tình hình quân sự.  Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ Quốc Phòng và ông tham gia biến cố hạm đội USS Maddox xảy ra ở Vùng Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin) năm 1964. Khi ấy Hoa Kỳ nói rằng Bắc Việt tấn công hạm đội USS Maddox để lấy cớ đó tấn đánh Bắc Việt nhưng bây giờ tài liệu đã giải mã, chính Hoa Kỳ dàn dựng vụ này hơn là Bắc Việt.  Năm 1965, ông được chuyển sang làm Bộ Ngoại Giao đặc trách phân tích tình hình Việt Nam.  Năm 1967, ông trở về làm cho Rand và cho Bộ Quốc Phòng, trực tiếp chịu trách nhiệm với Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Năm 1969, ông không có thiện cảm sách lược của Hoa Kỳ với Cuộc Chiến Việt Nam và sau khi nghe Randy Kehler (sinh năm 1944), một trong những người phản chiến thuyết trình cách hùng hồn, ông Daniel Ellsberg trở thành một trong những người chống chiến tranh. Sau khi đã có thiện cảm với nhóm phản chiến và ở cương vị là một người có thể tiếp xúc được những tài liệu tối mật của quốc gia, cùng với Anthony Russo (1934-2008) làm ở Rand, Daniel Ellsberg bí mật sao lại (copy) nhiều tài liệu tối mật và rò rỉ ra ngoài cho báo chí biết. Tài liệu rò rỉ bí mật này được giới truyền thông Hoa Kỳ đặt tên cho là Pentagon Papers. Năm 1970, Daniel Ellsberg cố gắng ảnh hưởng trên các Thượng Nghị Sĩ bằng cách thuyết phục các đổng lý văn phòng (chiefs-of-staff) của các Thượng Nghị Sĩ những tàn hại về Chiến Tranh Việt Nam.

Chủ Nhật ngày 13/6/1971, lần đầu tiên báo Times đăng trích đoạn từng phần 7000 trang Pentagon Papers.  Tổng Thống Richard Nixon và Henry Kissinger bị cú đấm bất ngờ, lập tức phản ứng cách hung hãn, cách chức nhiều người họ nghi hoặc. Tổng Thống Nixon nói: “Hãy cách chức ngay những tên đầu não.”  Nội các của Tổng Thống Nixon nộp đơn khẩn cấp xin Tối Cao Pháp Viện ngăn cấm không cho Times và các báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật của Quốc Phòng.  Times và các cơ quan truyền thông báo chí nhất quyết không chịu tiết lộ Daniel Ellsberg là nguồn gốc nhận tin của họ.  Daniel Ellsberg phải trốn chui trốn nhủi trong bí mật cả 2 tuần.  Sau 2 tuần, Tối Cao Pháp Viện phán quyết Times có quyền tiếp tục đăng tải những thông tin tối mật của Bộ Quốc Phòng được rò rỉ tới họ vì đây là Tự Do Ngôn Luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất.  Phán quyết này như một cú tát tai vào mặt nội các của Tổng Thống Richard Nixon.

Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg và bạn đồng nghiệp Anthony Russo nộp mình cho FBI ở Boston Massachussett.  Chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ truy tố 2 người vi phạm Đạo Luật Tình Báo Năm 1917 (Espionage Act 1917).  Sau 2 năm điều tra và nhiều biến chuyển, vào tháng 5 năm 1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này. Sau vụ án này, Daniel Ellsberg đi thuyết trình nhiều nơi về các đề tài chính trị cũng như những bí mật lịch sử liên quan đến Việt Nam và Đài Loan. 

Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã tiết lộ những bí mật cách đây hơn 40 năm và hiện nay Daniel Ellsberg còn sống và còn đi thuyết trình những vấn đề đó nên Văn Khố Quốc Gia chấp nhận bạch hóa hồ sơ.  Khi bạch hóa hồ sơ thì một hình thức nào đó họ cũng xác nhận chính sách của Hoa Kỳ là “quyền lợi của Hoa Kỳ là tối thượng” nên sẵn sàng bất chấp cả sự phản bội đối với đồng minh để đạt mục tiêu. Trong tương lai, những ai muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải biết điều này mà trong luật họ gọi đó là caveat emptor – let the buyer beware, làm bạn với Mỹ và nếu Mỹ đâm sau lưng cách bất ngờ thì đừng có than trời trách đất.

Lời Kết: Hoa Kỳ là siêu cường số 1 trên thế giới hiện nay nên không giao dịch hoặc làm bạn với Hoa Kỳ thì thiệt hại rất nặng nề. Làm bạn với Hoa Kỳ thì phải biết được ưu và khuyết điểm của Hoa Kỳ, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng nơi Hoa Kỳ để rồi không biết tự xây dựng thực lực cho chính bản thân mình thì có ngày vì quyền lợi của Hoa Kỳ, họ bán đứng không kịp trở tay thì đau lòng vô cùng.   Trở lại vấn đề Biển Đông,  chắc Hoa Kỳ và Trung Cộng đã có một thỏa thuận ngầm gì ở đàng trong rồi nên Bộ Trưởng Quốc Phòng của Trung Cộng là Trì Hạo Điền mới dám mạnh miệng tuyên bố với Hoa Kỳ là “hãy chia đôi Thái Bình Dương” và trong tháng 6/2011 Bắc Kinh đổ hơn 1000 tỷ Mỹ Kim mua công khố phiếu của Hoa Kỳ.  Chỉ có chế độ đa đảng và sự đoàn kết của người Việt trong và ngoài nước thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Thiếu một trong 2 yếu tố này, nguy cơ mất nước của Việt Nam rất là gần kề./.

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2011

Câu chuyện của nước Mỹ

Câu chuyện từ 1 đồng đôla Mỹ và những bóng ma trên tượng Thần Tự do

09:55:00 15/05/2011

Cái giá mà loài người đương đại phải trả để có một nền kinh tế Mỹ siêu cường là quá nhiều máu đổ ở bên ngoài nước Mỹ, nhân tính ngày càng teo lại trước dục vọng vật chất và trước cả dư thừa vật chất, còn nỗi sợ hãi thì ngày càng phình to như những bóng ma trên bầu trời New York.

Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Trân Châu Cảng rung chuyển, và nước Mỹ bàng hoàng. Lần đầu tiên kể từ sau kết thúc nội chiến năm 1865, người dân Mỹ thức dậy trong nỗi sợ hãi chiến tranh: không phải chiến tranh trong những bản tin hay trong những khái niệm, mà chiến tranh ở đây, trên chính đất nước được gây dựng bởi niềm tin được Chúa chở che và ban phước.

Chính phủ của Tổng thống Roosevelt hiểu rằng: nước Mỹ không thể an toàn ở Tân Thế giới được nữa, Đại Tây Dương không ngăn được chiến tranh tràn đến những bờ biển đẹp đẽ yên bình của họ. Họ không thể cứ làm ra vũ khí để bán cho những cuộc chiến ở bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. Đã đến lúc họ phải sử dụng những vũ khí đó cho sự an toàn của bản thân mình.

Ngày 8 tháng 12 năm 1941, Tổng thống Roosevelt tuyên bố chiến tranh. Nếu người Nhật không tấn công Trân Châu Cảng, không ai dám chắc việc người Mỹ có cùng quân đội đồng minh đổ bộ vào Normandie hay không, càng không ai dám đưa ra một kịch bản khác cho kết cục của Thế chiến.

11 tháng 9 năm 2001, nước Mỹ lại một lần nữa sống trong nỗi sợ hãi bao trùm. Quân đội Mỹ hùng mạnh, chính phủ quyền lực nhất thế giới, uy danh của một siêu cường không bảo vệ được công dân của mình ngay trên lãnh thổ được cho là an toàn gần như tuyệt đối. Máu đã chảy dưới chân chính Nữ thần Tự do. Và cuộc sống vĩnh viễn không còn như trước nữa, đối với tất cả công dân Hoa Kì cũng như đối với tất cả những người yêu hoà bình trên toàn thế giới.

Việc những bộ phim về chiến tranh, về thảm hoạ và ngày tận thế nở rộ trên các màn ảnh rộng cũng như trên các kênh truyền hình chính là tấm gương phản chiếu nỗi sợ hãi đang từng ngày gặm nhấm trong tiềm thức mỗi con người hiện đại. Chúng ta đang sống trong một thế giới bất ổn và đầy đe doạ.

Trong suốt nhiệm kì của mình, chính quyền của Tổng thống Geogre Bush đã đeo đuổi việc phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa (National missile defense - NMD) tại Đông Âu, trên lãnh thổ Ba  Lan và Cộng hoà Czech. Tháng 9 năm 2009, Tổng thống Obama tuyên bố điều chỉnh kế hoạch NMD tại châu Âu: chuyển hướng chiến lược sang Nam Âu và Thổ Nhĩ  Kỳ.

Tháng 2 năm 2011, chính quyền Obama trình Quốc hội đề nghị tăng ngân sách cho dự án NMD lên đến 8,626 tỷ đô la cho năm 2012. Ngày 3 tháng 5 năm 2011, Romania cho phép Mỹ triển khai NMD tại khu vực biên giới Romania và Bulgaria.

Dường như đó là những bước đi được tính toán cẩn thận cho một mục đích: không chỉ để phòng thủ, quân đội Mỹ và hệ thống phòng thủ tên lửa Mỹ có khả năng tấn công bất kì mục tiêu nào nằm ngoài lãnh thổ mang biểu hiện đe dọa an ninh của Hợp chủng quốc. Nói một cách khác, nước Mỹ sẵn sàng gây chiến tranh ở quốc gia khác để tránh chiến tranh trên vùng đất được gắn mác tự do, bình đẳng và nhân đạo của mình.

Tiến trình triển khai NMD được cộng đồng quốc tế dõi theo từng bước, tạo nên những phản ứng đa chiều. Các tổ chức khủng bố chống Mỹ điên cuồng gửi đi những lời đe doạ và cả những tiếng bom nhằm vào quân đội Mỹ và những chính quyền thân Mỹ.

Còn với người dân Mỹ, dường như quyết tâm tăng cường sức mạnh quân sự của vị tổng thống da màu đã làm vơi đi phần nào nỗi sợ hãi ám ảnh họ suốt hơn thập kỉ qua: rằng cuộc sống bình yên và thịnh vượng của họ có thể mất bởi những khối căm thù đến từ bên ngoài nước Mỹ.

Quả thực, mỗi người dân Mỹ sống với một niềm tin gần như tuyệt đối về ân điển của Chúa trời ban cho một phần ba châu lục quá đỗi giàu có này. Niềm tin ấy được thần thánh hoá từ những ngày lập quốc, được vẽ thành biểu tượng trên quốc ấn, được biến thành gần gũi với mỗi người dân Mỹ trên tờ tiền giấy mệnh giá một đô la.

Câu chuyện về tham vọng bành trướng của nước Mỹ bắt đầu vào tháng 6 năm 1782, khi thư kí Hạ viện Charles Thomson đề xuất biểu tượng Kim Tự Tháp 13 bậc đang tiếp tục được xây cao hơn, bên trên là con mắt mang ánh hào quang thường được nhìn như mắt thần Horus, với hai dòng chữ La tinh ANNUIT COEPTIS (God approves of the undertakings) và NOVUS ORDO SECLORUM (A new order of the ages).

Những dòng chữ này có thể được hiểu như Chúa ban ân điển cho những gì chúng ta (nước Mỹ) đã và đang làm để bắt đầu một trật tự mới của thời đại. Những chữ số La Mã dưới chân Kim Tự Tháp là 1776 - năm của Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, đánh dấu thời điểm bắt đầu của một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của nước Mỹ, của một đỉnh cao mới - một Kim Tự Tháp sẽ còn cao lên nữa, quy tụ toàn nhân loại.

Bởi lẽ, sự trù phú của đất đai, sự giàu có của thiên nhiên đa dạng trên một lãnh thổ cực kì rộng lớn sẽ đem đến sự thịnh vượng tất yếu - nền tảng của sức mạnh quốc gia. Đó cũng là nền tảng cho sự trỗi dậy định mệnh - Manifest Destiny của Tân thế giới. Khi mà chỉ với 15 triệu đô la, đất đai của Hợp chủng quốc được mở rộng thêm hơn 2 triệu km2 vào tháng 4 năm 1803 sau cuộc mua bán với Napoléon Bonaparte, rồi những cuộc chiến ngắn ngủi với Nga và Mexico dẫn đến việc sát nhập Alasca, Texas, California…

Tất cả như để chứng minh rằng Đấng toàn năng đã độ trì nước Mỹ. Và bởi thế, nước Mỹ được chọn để dẫn đường cho cả nhân loại, theo cách nói của Tổng thống thứ hai mươi tám Woodrow Wilson: Tôi tin rằng Chúa đã dẫn dắt từ thuở khai sinh của đất nước này, rằng chúng ta được chọn để chỉ đường cho các nước khác trên thế giới trong hành trình đi đến tự do. Hoa Kỳ là quốc gia lý tưởng duy nhất trên thế giới. Hoa Kỳ nhận được ân điển vĩnh hằng để thực hiện sứ mệnh cứu thế giới này. Chúng ta đến để cứu chuộc thế giới bằng tự do và công lý.

Ít nhất thì các thế hệ người Mỹ của hai mươi ba thập kỉ qua đã thành thực tin vào điều đó. Niềm tin đó tuyệt đối, ngây thơ và nguyên thuỷ đến nỗi, khi những tấn thảm kịch xảy ra, rất ít người đặt câu hỏi vì sao nước Mỹ lại có thể bị căm thù và bị ghét bỏ đến thế? Chính phủ Mỹ, quân đội Mỹ đã làm điều gì để đến mức những người phụ nữ có con nhỏ, những thanh niên nhút nhát hiền lành, thậm chí những đứa trẻ được sinh ra ở quá xa nước Mỹ… sẵn sàng đánh bom tự sát để giết được người Mỹ?

Tháng 2 năm 2003, thời điểm chính phủ Hoa Kỳ phát động cuộc chiến tại Iraq, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Dominique de Villepin - đại diện cho chính quyền của Tổng thống Jacques Chirac lên tiếng phản đối, kêu gọi gây dựng một diễn đàn cho hoà bình. Tiếng nói đó nhận được sự chia sẻ trong cộng đồng Pháp ngữ cùng những nước không thân Mỹ, tạo nên một đối trọng trong dư luận.

Tổng thống Geogre Bush đã lên án ông Chirac là vô ơn (ingrate), ám chỉ nước Pháp đã quên cuộc đổ bộ vào Normandie của người Mỹ và những người lính khác đến từ bốn châu lục, giải phóng Paris và cả thế giới khỏi hoạ phát-xít. Trên các phương tiện truyền thông tuyên truyền cho chiến tranh, trên các thăm dò dư luận được công bố, đa số người dân Hoa Kỳ đã tin là người Pháp vô ơn.

Câu chuyện Normandie quá tốt đẹp và bộ phim của đạo diễn tài năng Steven Spielberg "Giải cứu binh nhì Ryan" quá cảm động đã khiến cho rất nhiều người Mỹ hồn nhiên nhìn nhận cuộc chiến ở Iraq cũng được gắn lá cờ chính nghĩa là Tự do và Công lý như huyền thoại gần 60 năm trước.

Trong niềm tin hồn nhiên ấy, như thể chính người Mỹ đã tiêu diệu phát-xít, mang lại hoà bình cho thế giới. Và gần đây nhất, sự ngây thơ của người Mỹ thể hiện ở uy tín lên cao của Tổng thống Obama sau chiến công tiêu diệu Osama Bin Laden - người Arab lẽ ra vô danh nếu không mang lòng hận thù cực đoan với nước Mỹ, và nếu không kiên quyết bảo vệ đến cùng đức tin bị tổn thương của dân tộc mình.

Cứ như thể Bin Laden là kẻ thù định mệnh của nước Mỹ, và tiêu diệt được Bin Laden, nước Mỹ có thể ngủ yên, để an tâm thực hiện sứ mệnh xây dựng  trật tự mới của thời đại - kỷ nguyên của nước Mỹ trên trái đất này.

Nhưng nếu quả thực sứ mệnh mà Chúa trời trao cho nước Mỹ là mang lại những giá trị Tự do, Bình đẳng và một nền dân chủ thực sự cho toàn thế giới, thì tại sao ngay trên chính đất nước của mình, sau 4 năm nội chiến đẫm máu với khẩu hiệu giải phóng nô lệ đầy tính nhân văn của miền Bắc tư bản công nghiệp, luật Jim Crow phân biệt chủng tộc một cách cực đoan vẫn thống trị nước Mỹ gần một trăm năm, cho đến tận 1964?

Tự do, Bình đẳng, Công lý vẫn là những ý niệm tốt đẹp nhưng xa vời, tồn tại trong một niềm tin đã bộc lộ sự mong manh của mình khi Julian Assange và WikiLeaks làm lúng túng cả một hệ thống chính trị hùng mạnh với rất nhiều đồng minh chỉ bằng những cuộc hội thoại, những bức điện chứa đựng không gì ngoài sự thật.

Trong khi đó, CocaCola, hamburger, gà rán Kentucky, tiếng Anh-Mỹ, phim Holywood và American Idol đã làm thay đổi thói quen sinh hoạt của người dân toàn thế giới, tạo nên những lai căng văn hoá và những xung đột đức tin. Tự do và nhân quyền được sử dụng như một khẩu hiệu đẹp đẽ phủ lên những toan tính chính trị của một đất nước rộng lớn với những nhà tù như Guantanamo, nơi những người như cậu thanh niên 25 tuổi rụt rè Bradley Manning bị giam giữ và bị tra tấn mà không có bất kỳ phiên toà nào xét xử.

Vẫn luôn lên tiếng cho nhân quyền ở ngoài biên giới Mỹ, vậy mà  bà Clinton đã làm ngơ trước hàng trăm cuộc biểu tình trong và ngoài nước Mỹ đòi trả tự do cho người thanh niên mang tội không chấp nhận bạo lực và dối trá ấy.

Thậm chí, đa số các chính trị gia Hợp chủng quốc đều cho rằng Brad Manning đã phạm tội phản bội khi để cho thế giới biết đến vụ thảm sát ngày 12 tháng 7 năm 2007 tại Baghdad, giết chết 18 dân thường trong đó có hai trẻ em, với thủ phạm là chiếc Apache của không lực Mỹ, với những tiếng cười vô tư của những người đến Iraq với lá cờ Tự do và Công lý khi xác nhận những xác chết nằm lại hiện trường.

Có thể Brad Manning đã phản bội lại cả một hệ thống tuyên truyền cho chiến tranh, nhưng anh trung thành với sự thật và với đức tin của mình. Khó có thể tin được rằng những Mỹ Lai, Guantanamo, Iraq… tất cả những tội ác chiến tranh ấy là vì Công lý, hay vì giấc mơ về quyền được sống và được mưu cầu hạnh phúc của con người? Hay chăng, suy cho cùng, giấc mơ Mỹ, giá trị Mỹ cuối cùng chỉ để nhắm đến một thế giới thực sự phẳng và đồng nhất về những tiêu chuẩn tiêu dùng và hưởng thụ, để thị trường cho người khổng lồ kinh tế Mỹ trải dài không biên giới?

Nếu là như vậy, thì cái giá mà loài người đương đại phải trả để có một nền kinh tế Mỹ siêu cường là quá nhiều máu đổ ở bên ngoài nước Mỹ, nhân tính ngày càng teo lại trước dục vọng vật chất và trước cả dư thừa vật chất, còn nỗi sợ hãi thì ngày càng phình to như những bóng ma trên bầu trời New York

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Những giờ đen tối trước 30/4/1975

Những giờ đen tối

Lữ Giang

Nhiều người đã ngạc nhiên hay cảm thấy buồn tê tái khi đọc bài “Một số chuyện đáng buồn” của chúng tôi trích dẫn một số đoạn trong cuốn hồi ký “Decent Interval” của Frank Snepp, một viên chức cao cấp của CIA ở Sài Gòn, tiết lộ việc tướng Nguyễn Cao Kỳ âm mưu đảo chánh ông Thiệu, về tài sản của ông Thiệu, về 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia, về số vàng của Hàng Không Việt Nam biến mất, việc đánh lừa Tướng Dương Văn Minh ra làm Tổng Thống được nói là để thương lượng với Hà Nội nhưng thật sự là để tuyên bố đầu hàng, vụ tổng xuất Tổng Thống Thiệu, v.v. Không ai có thể ngờ được chính phủ Hoa Kỳ đã giết ông Diệm để nhảy vào lãnh đạo cuộc chiến Việt Nam và đưa miền Nam vào những ngày đen tối như vậy.

Hôm nay, chúng tôi sẽ trích thêm một số đoạn nói về việc Hoa Kỳ đã tuyển chọn những tay chân bộ hạ như thế nào để thi hành kế hoạch rút khỏi miền Nam và Hoa Kỳ đã điều khiển những giờ cuối cùng của miền Nam như thế nào. Đây là những giờ đau buồn nhất của VNCH.

Dĩ nhiên, có một số người đang số gắng chống lại việc công bố những sự thật lịch sử vì cho rằng nó phương hại đến những gì mà họ đang trân trọng. Nhưng những tài liệu về cuộc chiến Việt Nam hầu hết đã được đưa ra ánh sáng và nằm đầy trong các văn khố, trong các hồi ký của các nhân chứng lịch sử và trong các tài liệu nghiên cứu..., làm sao có thể dùng cảm tính của cá nhân hay một số tập thể để thay đổi lịch sử được? Các sử gia, các nhà phân tích và các thế hệ mai sau sẽ không quan tâm đến những cuộc biểu tình sôi động trên phố Bolsa hay những tuyên ngôn truyên cáo, họ chỉ dựa vào các tài liệu nói trên để đánh giá cuộc chiến Việt Nam và rút bài học lịch sử.

KHI MỸ CHUẨN BỊ RÚT LUI

Trong phần đầu của cuốn “Decent Interval” Frank Snepp đã tiết lộ cho chúng ta thấy Hoa Kỳ đã chuẩn bị như thế nào khi muốn rút lui khỏi cuộc chiến Việt Nam. Lối mô tả của viên chức CIA này có vẽ sống sượng hơn lối mô tả của các nhà chính trị, nhưng nó đã giúp cho chúng ta nhìn rõ sự thật lịch sử hơn. Frank Snepp viết:

“Với cái "mục tiêu thân hữu” (“friendly target”), như chế độ của Thiệu được gọi, khó khăn là làm thế nào để vừa buộc họ phải tuân theo chính sách của chính chúng tôi, vừa có những tay sai (agents) có chất lượng để thi hành chính sách đó.

“Trong những năm ngay sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, từ năm 1963, miền Nam Việt Nam liên tiếp bị xáo trộn vì những cuộc đảo chính và chống đảo chính. Có những viên tướng đầy tham vọng định lợi dụng tình trạng không ổn định của nước này để đục nước béo cò. Năm 1967, một phần vì sự gợi ý của một phân tích gia về quân sự trẻ và thông minh ở Sài Gòn tên là Daniel Ellsberg, chính phủ Hoa Kỳ đã quyết định ủng hộ một đối thủ (contender) khác, một viên tướng miền Nam bình thường và coi như phi chính trị (modest, supposedly non-political) tên là Nguyễn Văn Thiệu – trong một nỗ lực cuối cùng để chấm dứt các cuộc khủng hoảng. Sau đó ít lâu, cùng năm ấy, Thiệu được đưa lên làm Tổng thống. Người có quyền lực thật sự trên đất nước lúc đó là Nguyễn Cao Kỳ, một người Bắc nổi bật (flamboyant) nguyên Thủ tướng nay trở thành Phó Tổng Thống. Nhưng Đại sứ Bunker không hề lo sợ về Kỳ và phe cánh của Kỳ. Dần dần, ông gạt được họ ra và chỉ nói về những vấn đề chính trị với Thiệu mà thôi. Một “cú ân huệ” (coup de grâce) đã đến với Kỳ trong cuộc tấn công của Cộng Sản năm 1968 khi một số trong các đồng minh thân tín đầy quyền lực của ông ta bị giết.

“Từ đó, mục tiêu chính của sứ quán là củng cố bằng mọi giá chính phủ Thiệu, để cho nước Mỹ có thế rút quân ra khỏi Việt Nam mà không sợ nổ ra một cuộc khủng hoảng chính trị mới. Tháng 10 năm 1972, nhằm mục tiêu ấy, chúng tôi đã mua, mua chuộc và bán rất nhiều nhân vật quân sự, chính trị Nam Việt Nam, để các nhân viên tình báo, những người cộng tác với chúng tôi nằm trong chính phủ chỉ là những phần nối dài của chính chúng tôi.

(We had bought, bribed and sold so many South Vietnamese military and political figures that our spies and collaborators inside government were mere extensions of ourself.” (tr. 13)

Qua hai đoạn được trích dẫn nói trên, chúng tôi có những nhận xét sau đây:

1.- Hai tướng Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu đã được CIA tuyển chọn khi cả hai cùng đi học khoá Command and General Staff College ở Fort Leavenworth, Kansas, tại Hoa Kỳ vào năm 1957 – 1958, rồi được cài vào chính phủ Ngô Đình Diệm để lật đổ chính phủ này và thực hiện các kế hoạch tiếp theo do Mỹ đưa ra. Frank Snepp chỉ mới làm việc cho CIA từ năm 1968, không nắm vững những chuyện đó nên tưởng rằng ông Thiệu mới được tuyển chọn năm 1967.

2.- Tiêu chuẩn để tuyển chọn một người cấm quyền tại Nam Việt Nam để thi hành chính sách của Mỹ được Frank Snepp nói rõ: Phải tuân hành chính sách của Mỹ và có khả năng thi hành chính sách đó. Một tiêu chuẩn thứ ba là phi chính trị (non-political), chỉ biết làm theo sự dẫn dắt.

3.- Ông Thiệu được đưa lên làm tổng thống không phải để bảo vệ miền Nam mà là để “Mỹ có thế rút quân ra khỏi Việt Nam mà không sợ nổ ra một cuộc khủng hoảng chính trị mới”.

4.- Ông Thiệu không được coi như là một cộng tác viên (collaborator) của Mỹ mà chỉ là một tay sai (henchman), được lèo lái để hoàn thành chính sách của Mỹ. Với chủ trương “Từng chiến lược cho từng mức viện trợ”, ông Thiệu coi miền Nam như lãnh thổ của Mỹ: Mỹ cấp viện trợ đủ, giữ cả miền Nam. Mỹ cắt bớt viện trợ, thu nhỏ lãnh thổ lại và cuối cùng bỏ mất miền Nam theo như kế hoạch của Mỹ đã định trước. Chủ trương này đã dựa vào phúc trình về tình hình của tướng Mỹ John E. Murray và khuyến cáo của tướng Ted Serong, cả hai có thể được coi như là “cò mồi”. Nói một cách tổng quát, Tổng Thống Thiệu đã hành động với tinh thần của một người lính đánh thuê (mercenary) chứ không phải với tinh thần của một chiến sĩ quốc gia, cuơng quyết bảo vệ miền Nam cho đền giọt máu cuối cùng.

Giả thiết lúc đó Mỹ để cho dân miền Nam bầu một nhân vật chính trị lên làm tổng thống như Luật sư Trần Văn Tuyên, Luật sư Vương Văn Bắc, ông Trần Chánh Thành... chẳng hạn, những người này sẽ không chịu ký hiệp định Paris và đi tìm một giải pháp khác để bảo vệ miền Nam. Họ sẽ làm hỏng kế hoạch của Mỹ.

HAI “AGENTS” CỞ BỰ CỦA CIA

Frank Snepp cho biết CIA đã tuyển dụng hai tướng có thế lực của miền Nam làm “agents” cho họ để cung cấp tin tức và thi hành chính sách từng giai đoạn của Hoa Kỳ. Ông tiết lộ:

“Shackley đã lôi kéo được tướng Đặng Văn Quang, viên cố vấn sôi nổi (ebuillient) về an ninh của Thiệu (coi như Kissinger của Thiệu, nếu như bạn muốn gọi như thế) làm một người cung cấp tin tức (informant) cộng tác chặt chẽ với trạm CIA. Shackley còn triển khai sự kết hợp chặt chẽ với tướng Nguyễn Khắc Bình, người trở thành cấp chỉ huy đầy quyền lực của Cảnh Sát Miền Nam Việt Nam.

“Cho đến ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn, Quang và Bình có thể được coi là những nhân vật quan trọng nhất của chúng tôi ở Việt Nam. Nhưng trong thực tế họ được đánh giá hơi cao. Người này cũng như người kia, không ai cung cấp cho chúng tôi nhiều tin tức. Chúng tôi lấy tin chủ yếu nhờ những máy móc đặt bí mật trong dinh Tổng thống. Phòng làm việc của Thủ tướng được nghe thường xuyên. Số ít tin tức do Bình và Quang cung cấp thường sai lệch. Thật vậy, họ nhanh chóng hiểu rằng họ phải nghĩ đến quyền lợi riêng của họ và quyền lợi của Thiệu, không thể cung cấp cho chúng tôi đúng những tin tức chúng tôi yêu cầu. Hơn thế, trạm CIA phụ thuộc rất nhiều vào họ về mặt chính trị, vì họ là những người truyền đạt những chủ trương và những quyền lợi của người Mỹ trong chính phủ, vì thế chúng tôi không thể đánh giá những tin tức của họ một cách khách quan hay có phê phán.

“Sự tín nhiệm của chúng tôi đối với hai người này đã gây ra nhiều hậu quả tai hại. Không phải những cơ quan tình báo bị ánh hưởng mà cả uy tín về tinh thần và chính trị của người Mỹ đối với người Việt Nam cũng bị giảm sút. Làm cho Quang và Bình trở thành những người giàu có và có thế lực, cả Quang và Bình trở thành những biểu tượng về tham nhũng và thoái hóa theo lối Mỹ, điều đó sau cùng đã cung cấp cho Cộng Sản vũ khí tốt nhất để tuyên truyền”.

(By virtue of the wealth and prominence we bostowed on them, both Quang and Binh became symbols of the American-inflicted corruption and decadence that ultimatly provided the Communists with their best propaganda weapon).

(trích từ tr. 8 và 9).

Theo ý kiến chúng tôi, Frank Snepp đã đánh giá tướng Đặng Văn Quang quá cáo khi coi ông như là một thứ “Kissinger” của Thiệu. Tướng Thiệu và Tướng Quang cùng tốt nghiệp khóa sĩ quan Đập Đá ở Huế năm 1948 và có trình độ văn hóa thấp như nhau (chưa học xong trung học). Những người từng đi họp với tướng Quang và tướng Thiệu nhiều lần cho biết chẳng bao giờ Quang dám có ý kiến gì khác với ông Thiệu. Mỗi lần ông Thiệu hỏi chuyện gì, Quang đều trả lời: “Thưa Tổng Thống nói đúng!”.

Nhiệm vụ chính của tướng Quang là “kinh tài” cho ông Thiệu, trong đó có hai nghiệp vụ chính là đi thu hụi chết và buôn lậu. Trung Tá Trần Tích, Trưởng Phòng Quản Trị Quân Đoàn 2 kể lại rằng tháng 3 năm 1975 ông cùng tướng Phạm Văn Phú di tản khỏi Pleiku bằng máy bay. Khi vừa về tới Nha Trang, Tướng Phú đã quay lại bảo ông: “Xem có ai muốn đi làm tỉnh trưởng không?”. Trung Tá Tích rất ngạc nhiên và hỏi lại: “Giờ này mà còn tỉnh trưởng gì nữa, thưa Thiếu Tướng?”. Tướng Phú liền nói: “Tháng này chưa có 2 triệu nộp cho Trung Tướng”(!).

SỐ PHẬN CỦA KẺ PHẢN BỘI CIA

Mặc dầu tướng Đặng Văn Quang được CIA gài vào bên Tổng Thống Thiệu để lấy tin tức, nhưng trong cuộc họp tại Cam Ranh trưa 11.3.1974, tướng Thiệu ra lệnh rút khỏi Cao Nguyên, nhưng tướng Quang không báo cho CIA biết. Do đó, khi hay tin này, CIA đã sa thải tướng Quang ngay. Vì thế tướng Quang đã gặp khó khăn khi đi di tản.

Polar, Trưởng Trạm CIA Sài Gòn là người có quan hệ với người Việt Nam thuộc đủ loại, nên khi đến giờ di tản, ông đã bị nhiều người kêu cứu, nhưng trong nhiều trường hợp ông không thể giúp đỡ được. Riêng trường hợp tướng Quang, Frank Snepp đã kể lại như sau:

“Polgar trở thành tù binh trong sứ quán đúng lúc bạn bè Việt Nam chờ ông, cách đó khoảng mười ngôi nhà. Polgar đứng bên hàng rào, bất lực; ông đang nhìn biển người trước mặt, chợt một tiếng quen thuộc gọi ông, gọi to và giật giọng. Đó là nguyên cố vấn an ninh của Thiệu, tướng Đặng Văn Quang vừa đến và len tới sát hàng rào. Ông mặc một chiếc áo đi mưa dài, đeo kính đen, xách hai cặp rất nặng. Polgar nói dõng dạc với người gác cổng: "Cho người này vào". Nhưng cũng phải tranh luận, người gác cổng mới đồng ý hé cửa để Quang lách cái thân già, béo phệ của ông ta vào!

“Những giờ sau, Quang đi đi lại lại trong phòng làm việc của Polgar trên lầu sáu trông rất giống một trái quất vàng tròn trĩnh với bộ quần áo màu xanh nước biển, đeo nhiều kim cương. Quang gọi dây nói khá lâu vì trong lúc sợ hãi và vội vàng vào sứ quán, ông đã quên con cháu đang đứng bên ngoài. Quang cố cầu cứu mấy người bạn giúp.

“Hầu hết chúng tôi cố quên Quang. Thấy ông ta ngồi trong phòng, chúng tôi đi ra ngay. CIA đã trả ông ta nhiều tiền và nâng cao ông ta trong nhiều năm, và bảo đảm vị trí của ông ta bên cạnh Thiệu, nhưng cuối cùng ông ta đã phản bội chúng tôi, không cho chúng tôi biết quyết định của Thiệu rút khỏi Cao Nguyên.

“Vì thế, trong những giờ cuối cùng của ông ta ở Sài Gòn này, mặc xác ông ta xoay sở. Buổi chiều, khi máy bay trực thăng chở Quang đi, không có con ông ta - một vài người trong chúng tôi nghĩ, Thật là đáng kiếp (Good riddance)” (tr. 495 - 496)

NHỮNG GIỜ PHÚT CUỐI CÙNG

Hoa Kỳ đã quyết định tất cả về những giờ phút cuối cùng của VNCH. Họ tìm cách đưa những người Mỹ và một số người Việt Nam ra khỏi nước. Có hai nơi được dùng để thực hiện kế hoạch này, một tại cơ sở của DAO ở phi trường Tân Sơn Nhứt và một tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở đường Thống Nhất. Vì bài báo có giới hạn, chúng tôi chỉ trích một số đoạn chính Frank Snepp mô tả về những giờ phút cuối cùng tại Tòa Đại Sứ Mỹ.

Frank Snepp đã mô tả hình dạng của Đại Sứ Martin lúc đó như sau:

“Dưới con mắt của giới thân cận, Graham Martin nay giống một xác chết biết đi. Da xanh, mặt nhăn nheo, ông đứng không vững. Từ ngày Hoa Thịnh Đốn ra lệnh di tản bằng trực thăng, ông tỏ ra không còn ý chí đấu tranh nữa. Giới quân sự và đô đốc Gayler nay hoàn toàn nắm mọi công việc. Martin chỉ còn một lo lắng duy nhất: Làm thế nào di tản càng được nhiều người Việt Nam càng tốt. Nhưng phải chờ một hai giờ nữa máy bay trực thăng của hải quân mới đến.”

Đến 12 giờ 30 phút, một phi đoàn gồm 36 máy bay trực thăng đầu tiên rời cầu tàu USS Hancoch với nhiều máy bay Cobra vũ trang hộ vệ. Một phút sau, những máy bay tiềm kích phản lực Phantom từ các căn cứ ở Thái Lan bay tới bầu trời Việt Nam yểm trợ thêm. Một giờ rưỡi trôi qua kể từ lúc tổng thống bật đèn xanh cho chiến dịch "Gió Nhanh" (Frequent Wind)...

17 giờ, tướng Smith gọi sứ quán hỏi số lượng người di tản. Lần đầu tiên ông nhận được câu trả lời có vẻ nghiêm chỉnh. Một cộng tác viên của Jocbson vừa đếm lại số người trong nhà, ngoài sân: từ 1.500 đến 2000 người. Tình hình những người này lúc đó rất nóng nẩy. Mới có ba máy bay trực thăng đến chở người tị nạn. Phải 40 phút nữa mới có chuyến khác. Sốt ruột vì chờ đợi, dân tị nạn kêu ca, oán thán, chửi bới...

17 giờ 30 phút, tướng Smith báo cho hạm đội di tản biết còn khoảng 1.300 người nữa, trong đó có đơn vị an ninh hải quân gồm 840 người.

Cầu hàng không máy bay trực thăng hoạt động đều, mặc dù gặp khó khăn: sân hẹp, CH.53 là loại máy bay trực thăng lớn, nặng, mỗi chiếc phải chở tới 70 người, mức trọng tải cao nhất. Nhiều lần, gió cuốn suýt gây ra tai nạn...

Ở Tòa Bạch Ốc, Kissinger báo cáo với tổng thống Ford: Phái bộ quân sự đã hoàn thành việc di tản. Hơn 4.500 người đi bằng máy bay trực thăng trong đó có 450 người Mỹ. Đó là một thành công rực rỡ mặc dù có mất mát.

Chúng tôi chỉ còn 12 người trong tổng số ba trăm nhân viên tình báo CIA ở Việt Nam. Tôi nhìn lại lần cuối cùng bàn làm việc của tôi. Tất cả 12 người chúng tôi xếp hàng, dọc cầu thang lên mái nhà, chung quanh xúm xít người Việt Nam. Tôi không có can đảm nhìn họ. Một thủy quân lục chiến hỏi chúng tôi có vũ khí không. Nếu có phái để lại. Có nhiều tiếng phản đối khi nghe lệnh ấy nhưng không ai giữ lại súng nữa. Polgar rút khẩu súng Browing ra, ngắm nghía một lát, rồi thở dài, thất vọng: "Tôi phải ở lại, đại sứ cũng muốn ở lại một lúc nữa, chờ cho người Việt Nam ở trong ngôi nhà này đi hết mới lên đường. Tôi ở lại và cùng đi với đại sứ. Quay lại, ông nói với Pittman, người phó của ông: "Anh cũng nên ở lại". Pittman gật đầu đặt vali xuống. Polgar quay ra phía tôi: "Anh giúp bạn Việt Nam tôi lên máy bay. Tôi hỏi lại: "Ông có cần tôi ở lại không?” - Không. Sở chỉ huy đã ra lệnh, mọi người đi cả. Tôi chỉ giữ Pittman và một nhân viên thông tin ở lại để liên lạc với Hoa Thịnh Đốn.

Schlesinger định rõ thời hạn: Giữa đêm phải ngừng cuộc di tản. Nghĩa là chỉ còn hai giờ nữa. Sáng hôm sau, sẽ tiếp tục bay. Bây giờ, 19 máy bay trực thăng sẽ đến sứ quán để đón tất cả người Mỹ ở đó, kế cả bản thân đại sứ. Martin trả lời một cách tiêu cực.

Trước 12 giờ đêm, Martin mặt trắng bệch ra sân sứ quán. Cùng với mấy cộng tác viên, ông cho gọi người Mỹ vào trong nhà. Chú lính thủy quân lục chiến vừa được tin của đài cộng sản loan báo cuộc tiến công vào Sài Gòn bắt đầu. Ngoài sân, đại tá Madison và bốn sĩ quan nữa thuộc ủy ban quân sự hỗn hợp đi qua đám đông. Đại tá Sumniers, người phó của ông, vớ lấy máy phát thanh: "Bình tĩnh, bình tĩnh. Chúng tôi ở lại đây, và sẽ đi sau bà con".

3 giờ 45 phút, kết thúc cuộc di tản, Martin đi ra sân sứ quán, nhìn nhanh đám đông, ra hiệu cho đại tá Madison: "Những người Việt Nam còn lại sẽ đi bằng máy bay CH.53. Ai còn chờ trong sứ quán thì ra sân đợi. Cầu hàng không trên mái nhà dành riêng cho người Mỹ”.

Ở đằng kia cầu hàng không, Gays và Whitmire đã quyết định chấm dứt trò chơi của Martin. Các ông hiểu rằng đại sứ cứ muốn lùi dần giờ kết thúc, mỗi lần Martin đều viện cớ còn quá nhiều người Việt Nam v.v... Mà lệnh của Tòa Bạch Ốc rất rõ ràng: Cầu hàng không ngừng lúc bản thân Martin chưa được di tản!

John Pittman đang ngồi ngủ trong phòng làm việc của đại sứ. Trung tá Kean vào đánh thức anh dậy, anh chìa bức điện của Tòa Bạch Ốc ra: Tổng thống ra lệnh cho đại sứ phải đi chuyến này! Martin nhún vai, cầm vali, nói với mọi người: "Xong, ta đi" rồi tiến đến cầu thang máy. Nhiều cộng tác viên đi theo: Polgar, Pittman, Jacobson, John Bennett thuộc cơ quan AID, Joe Bennett, cố vấn chính trị và Brunson Mc Kingsley, Lehmann, Boudreau và Jim Devine chờ chuyến sau.

Ở Hoa Thịnh Đốn, Henry Kissinger vừa bắt đầu cuộc họp báo mà ông đã hoãn mấy lần. Ông báo tin cuộc di tản tất cả những người Mỹ ở Sài Gòn đã hoàn thành tốt đẹp. Thực tế hãy còn lính thủy quân lục chiến trong sứ quán. Kissinger quyết định không nêu chi tiết ấy. Cuộc họp báo vừa kết thúc, ông vội vàng nhảy bổ vào phòng làm việc nổi cơn điên lên. Ông thét lớn: Đưa ngay thủy quân lục chiến ở Sài Gòn ra! Ông vừa tuyên bố cuộc di tản thành công rực rỡ, nếu để chết một người, ông sẽ giết...! .

7 giờ 30 phút (sáng 30.4.1975), giờ Sài Gòn, nhóm của Kean đóng chặt cánh cửa đồ sộ bằng gỗ sến của sứ quán, hạ màn sắt xuống và vội vàng chạy đến cầu thang phụ. Ở lầu một và lầu bốn, họ ném lựu đạn cay vào cầu thang máy và kéo hàng rào thép gai ra ngăn cầu thang. Nhưng đúng lúc họ bước lên trên bậc cuối cùng để lên mái nhà thì những người Việt Nam nổi giận ở ngoài sân đã phá được cửa tầng dưới và chạy lên đuổi họ. Thủy quân lục chiến khóa được cửa lên mái nhà và ra chỗ máy bay đậu.

Nhưng lúc người lính cuối cùng vào được ca bin máy bay thì cũng là lúc người Việt Nam leo tới mái nhà. Và khi họ nhảy bổ vào gầm bánh máy bay thì máy bay bay lên cao. Lúc bấy giờ là 7 giờ 53 phút giờ Sài Gòn.

(Trích từ tr. 508 – 562)

Ngày 19.4.2011

Lữ Giang