Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

Nhân đạo ở chổ nào???

Mỹ, Israel chỉ trích UNESCO công nhận Palestine

Phúc Minh

Thứ Ba,  1/11/2011, 11:02 (GMT+7)

Phóng to
Thu nhỏ
Add to Favorites
In bài
Gửi cho bạn bè

UNESCO biểu quyết chấp thuận tư cách thành viên đầy đủ của Palestine vào ngày 31-10. Ảnh: AP

(TBKTSG Online) – Mỹ quyết định ngưng cấp kinh phí cho Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) sau khi tổ chức này bỏ phiếu công nhận tư cách thành viên đầy đủ của Palestine vào ngày 31-10, trong khi Israel nói quyết định này gây phương hại cho tiến trình hòa bình.

>> Palestine chính thức đệ đơn gia nhập LHQ

Ngày 31-10, UNESCO biểu quyết chấp thuận tư cách thành viên đầy đủ của Palestine với 107 phiếu thuận, 14 phiếu chống và 52 phiếu trắng. Pháp cùng tất cả các nước Ả-rập, châu Phi, Mỹ Latinh và châu Á - trong đó có Trung Quốc và Ấn Độ - bỏ phiếu ủng hộ. Trong khi đó, Israel, Mỹ, Canada và Đức bỏ phiếu chống. Nhật Bản và Anh bỏ phiếu trắng.

Như vậy, UNESCO là thành viên đầu tiên của Liên hiệp quốc (LHQ) công nhận tư cách thành viên đầy đủ của Palestine.

Tháng trước, Palestine nộp đơn xin gia nhập LHQ với tư cách thành viên đầy đủ nhưng Mỹ cho biết sẽ phủ quyết trong cuộc bỏ phiếu của Hội đồng Bảo an (HĐBA) vào tháng 11-2011. Theo yêu cầu, Palestine cần được 2/3 phiếu ủng hộ trong số 193 ghế thành viên của HĐBA thì mới được công nhận.

Mỹ cắt tài trợ 60 triệu đô la

Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 1-11 cho biết kế hoạch tài trợ 60 triệu đô la Mỹ cho UNESCO vào tháng 11-2011 sẽ bị ngưng lại theo luật của Mỹ. Đạo luật được thông qua vào những năm 1990 cấm Mỹ tài trợ cho bất kỳ cơ quan nào của LHQ công nhận Palestine là thành viên đầy đủ.

Mỹ hiện là nước tài trợ lớn nhất cho UNESCO, cung cấp khoảng 22% ngân sách hàng năm cho cơ quan này .

Nhà Trắng gọi quyết định của UNESCO là “quá sớm” và phương hại tới mục đích của cộng đồng quốc tế về kế hoạch hòa bình toàn diện ở Trung Đông. Phát ngôn viên Nhà Trắng Jay Carney nói hành động trên là sơ sót trong quá trình khởi động lại hội nghị hòa bình trực tiếp giữa Israel và Palestine.

Đại sứ Mỹ tại LHQ, bà Susan Rice, nói cuộc biểu quyết “gây tai hại sâu sắc cho UNESCO”.

Israel chỉ trích việc bỏ phiếu của UNESCO

Sau khi UNESCO bỏ phiếu thông qua tư cách thành viên đầy đủ của Palestine, Israel cho biết quyết định trên sẽ gây hại cho tiến trình hòa bình Israel-Palestine. Bộ Ngoại giao Israel mô tả cuộc bỏ phiếu của UNESCO tương tự như sự từ chối các nỗ lực của cộng đồng quốc tế để thúc đẩy tiến trình hòa bình Israel-Palestine.

Israel chỉ trích cách làm của UNESCO không những không giúp cho hòa bình Trung Đông mà còn gây hại nghiêm trọng cho việc nối lại tiến trình hòa bình.

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2011

Con bài thí của Mỹ tạo

Chỉ là những con bài thí

Lữ Giang

Trong tháng 7, sự ra đi của hai cựu tướng lãnh VNCH đã được dư luận bàn tán khá nhiều, đó là Trung Tướng Đặng Văn Quang qua đời hôm 15.7.2011 tại Sacramento, California, hưởng thọ 82 tuổi, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ mệnh chung ngày 23.7.2011 tại Kuala Lumpur, Malaysia, hưởng thọ 81 tuổi.

Hình như ít ai muốn bàn đến Tướng Quang, vì cựu viên chức CIA Frank Snepp đã viết quá nặng về ông rồi. Đa số tập trung vào Tướng Kỳ. Ngoài cá tính, cuộc sống, những việc làm của ông dưới thời VNCH, nhiều người phê phán rất nặng chủ trương “hoà giải hòa hợp dân tộc” của ông. Nhưng nhìn chung, đa số đều viết hay nói theo cảm tính, theo xu hướng chung của người Việt chống cộng ở hải ngoại..., chưa ai nói lên được vai trò thật sự của hai tướng này trong ván bài chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ. Đây mới là vấn đề cần bàn để rút bài học lịch sử.

CON ĐƯỜNG MỸ ĐI

Chúng tôi xin nhắc lại, trước cuộc đảo chánh lật đổ ông Diệm năm 1963 hai ngày, Đại Sứ Cabot Lodge đã gởi về Washington một công điện trình rằng chiều 25.10.1963, ông Trần Trung Dung, cựu Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng, đã nói với viên chức CIA rằng ông được biết các tướng lãnh dự định làm đảo chánh trong vòng 10 ngày. Theo ông biết các tướng lãnh không tiếp xúc với các nhà lãnh đạo dân sự. Ông ta bày tỏ một vài sự quan tâm về khả năng và ý định của các Tướng Lãnh. Ông ta coi đa số các Tướng Lãnh không gì khác lơn là các trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng Lãnh (He consider majority of Generals no more than French trained sergeants in Generals’ uniforms”)... Các Tướng Lãnh thiếu kinh nghiệm chính trị cần thiết để điều hành chính phủ. (FRUS, Volume IV, tr. 457 – 458. Document 229).

Khi nói với CIA như vậy, có lẽ ông Trần Trung Dung tưởng rằng Mỹ không biết khả năng của các tướng mà họ đang dùng để làm đảo chánh. Nhưng ông đã lầm. Người Mỹ biết rất rõ chuyện đó, nên họ đã quyết định dùng các tướng này để làm công cụ thi hành chính sách của họ ở Việt Nam.

Sau khi lật đổ ông Diệm, người Mỹ cho Tướng Dương Văn Minh và ông Nguyễn Ngọc Thơ (Phó Tổng Thống của ông Diệm) làm chính phủ trái độn và để cho tình hình trở nên tồi tệ đến mức không còn cứu vãn được, rồi viện vào lý do đó, Mỹ cho hai tay chân bộ hạ là Tướng Nguyễn Khánh và Tướng Trần Khiêm lật đổ chính phủ Dương Văn Minh, lên cầm quyền và mở đường cho cho Mỹ đổ quân vào miền Nam. Sử gia George McT. Kahim của Mỹ đã gọi cuộc “chỉnh lý” ngày 30.1.1964 của Tướng Nguyễn Khánh là “The Pentagon’s coup”!

Theo tài liệu, Mỹ chỉ muốn Nguyễn Khánh làm quốc trưởng bù nhìn còn Trần Thiện Khiêm, một agent của Mỹ, làm thủ tướng và nắm thực quyền. Nhưng Tướng Khánh không muốn làm bù nhìn, bắt Tướng Khiêm phải đi ra ngoại quốc, và ông làm quốc trưởng kiêm luôn thủ tướng.

Lúc đầu người Mỹ rất bực mình về chuyện này. Nhưng khi thấy Tướng Khánh tỏ ra muốn trao quyền hành cho người Mỹ, Đại Sứ Lodge đã báo cáo về Washington rằng Tướng Khánh đã nói với ông: “Chúng tôi người Việt Nam muốn người Mỹ chịu trách nhiệm với chúng tôi chứ không phải chỉ là những cố vấn”. (We Vietnamese want the Americans to be responsible with us and not merely be advisers).

Nhưng khi đi nước cờ này, Mỹ đã gặp sự chống đối rất mạnh của Phật giáo vì hai lý do chính: (1) Phật giáo tưởng rằng Mỹ đã để cho “Cần Lao tái xuất giang hồ” vì Tướng Khánh và Tướng Khiêm vốn được coi là “con cưng của ông Diệm”. (2) Mỹ đã phá hỏng kế hoạch thành lập một chính phủ Phật giáo tại miền Nam của nhóm Thích Trí Quang. Thích Trí Quang đã nói với ông Lodge rằng “ông ta không coi Khánh như là một “Phật tử tốt” (good Buddist)!

Những trò múa rối của Tướng Khánh đã làm cho tình hình rối tung. Tướng Khánh phải đi ra ngoại quốc và một chính phủ dân sự do Phan Huy Quát làm thủ tướng và Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng được đưa ra làm trái độn trong khi chuẩn bị cho nhóm tay sai của Mỹ trở lại nắm chính quyền.

Khi tình hình rối loạn đến một mức không còn cứu vãn được, ngày 11.6.1965 Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát ra tuyên cáo giao trả Quân Đội trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia.

Lúc đó, có 4 “candidats” thuộc nhóm “Young Turks” có thể được chọn làm lãnh đạo quốc gia là Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Hữu Có và Chung Tấn Cang. Mỹ quyết định chọn Nguyễn Văn Thiệu thay Nguyễn Khánh và đưa Trần Thiện Khiêm về làm thủ tướng. Tuy nhiên, lúc đó nhóm Thích Trí Quang đang chủ trương tạo bạo loạn để cướp chính quyền nên Mỹ phải dùng Nguyễn Cao Kỳ dẹp loạn xong mới thực hiện được.

Ngày 19.6.1965, Hiến Ước mới được ban hành. Tướng Nguyễn Văn Thiệu được bầu làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (quốc trưởng) và Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (thủ tướng).

Tướng Đặng Văn Quang chỉ là một “agent” mới được CIA tuyển chọn sau này đưa vào làm phụ tá cho Tổng Thống Thiệu để theo dõi ông Thiệu.

Nhưng đau hơn cả là Tướng Dương Văn Minh, đã bị cả Đại Sứ Mỹ lẫn Đại Sứ Pháp dụ ra làm Tổng Thống trong những giờ cuối cùng của miền Nam, được nói là để thương lượng với Bắc Việt và thành lập một chính phủ trung lập ở miền Nam, nhưng thật sự là để tuyên bố đầu hàng.

CON CHỐT ĐẶNG VĂN QUANG

Bài viết về Tướng Đặng Văn Quang rất ít, mặc dầu tài liệu nói về sự lộng quyền và tham những của Đặng Văn Quang khá nhiều. Trong cuốn “Decent Interval”, Frank Snepp, trưởng phân tích của CIA tại Sài Gòn trước 30.4.1975, đã phê phán Đặng Văn Quang rất nặng. Ông nói rất tiếc là Mỹ đã biến Đặng Văn Quang thành “người giàu có và có thế lực” và “trở thành những biểu tượng về tham nhũng và thoái hóa theo lối Mỹ, điều đó sau cùng đã cung cấp cho Cộng Sản vũ khí tốt nhất để tuyên truyền”. Ông lên án Đặng Văn Quang là “kẻ phản bội”. Người Mỹ đã trả cho ông nhiều tiền để lấy tin tức từ dinh Độc Lập, nhưng nhận được rất ít tin từ Quang. Nhờ các máy nghe lén gắn trong dinh Độc Lập, Mỹ mới theo dõi được các hoạt động của ông Thiệu. Ngay cả khi Thiệu họp tại Cam Ranh ngày 14.3.1975 đưa ra quyết định rút khỏi Cao Nguyên, Quang cũng không báo cho Mỹ biết. Vì thế Quang bị sa thải ngay và số phận trở thành bi thảm.

Trong cuốn “Việt Nam Nhân Chứng” Tướng Trần Văn Đôn nói tại miền Nam, Tướng Đặng Văn Quang đứng hàng thứ 4 sau Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, nhưng trong thực tế Quang có quyền lực gần như vô giới hạn. Ngoài nhiệm vụ lo săn tin cho CIA, Đặng Văn Quang đã lợi dụng các chức vụ của mình để “kinh tài” cho ông Thiệu, trong đó có hai nghiệp vụ chính là đi thu hụi chết và buôn lậu. Quang được coi như một hung thần ở miền Nam và lúc đó chẳng ai dám động đến Quang. Khi cuộc điều tra buôn lậu bạc Việt Nam và thuốc tây... bán cho Việt Cộng đang được tiến hành, các viên chức điều tra phát hiện ra người cầm đầu đường dây là tay chân bộ hạ của Đặng Văn Quang, ngày hôm sau có lệnh phải ngưng điều tra ngay.

Trong bài “Drugs, Corruption, and Justice in Vietnam and Afghanistan: A Cautionary Tale” đăng trên New York Times ngày 27.10.2009, khi viết về chuyện tham nhũng ở Afghanistan, Merle L. Pribbenow, một cựu viên chức CIA, đã nhắc lại chuyện tham nhũng của Đặng Văn Quang ở Việt Nam như sau: “He was a paid agent of the CIA; and that he was Thieu’s “bag-man” for collecting corruption payments.”

Đài BBC ngày 21.7.2011 có phổ biến bài “Đời bi kịch của một vị tướng VNCH” do ông Đặng Văn Phú ở San Jose viết theo lối “huề cả làng” để gỡ gạc phần nào Tướng Quang, nhưng chẳng nói lên được gì. Chuyện Đặng Văn Quang quá nhiều, chúng tôi chĩ xin trích lại dưới đây một đoạn của Tướng Trần Văn Đôn nói về chuyện tham nhũng của Đặng Văn Quang:

“Lúc còn là dân biểu, chưa tham gia chính phủ tôi có một người bạn tên là Nguyễn Xích Hào. Ông Nguyễn Xích Hào có chức vụ khá quan trọng ở văn phòng Trung ương Air Việt Nam. Con ông Hào đủ điều kiện du học, nhưng sợ kẹt lời phê của ông Quang nên ông Hào nhờ tôi nói giùm với ông Quang. Tôi điện thoại yêu cầu ông Quang nếu không gì trở ngại thì phê cho họ đi cho kịp nhập học đầu niên khóa tại Mỹ. Ông Quang xin tên họ, số điện thoại, và hứa sẽ phê chuẩn. Khoảng mười ngày sau có dịp dự lễ mãn khóa trường Sĩ quan Cảnh Sát, gặp Quang tôi nhắc đến việc tôi nhờ, yêu cầu ông ấy lưu ý xét cho sớm. Ông Quang trả lời:

- Được! Được! Không có gì đâu!

Tôi về nhà, điện thoại cho ông Hào biết tin con ông ấy sẽ được phép đi. Ông Hào nói:

- Tôi cũng biết rồi! Tôi đã được giấy phép.

Mấy tháng sau, gặp tôi ông Hào nói:

- Tin cho anh biết thằng con tôi đã đi rồi! Tôi phải đưa một gạch (một triệu bạc Việt Nam) nó mới được đi chứ đâu phải dễ.”

CON BÀI THÍ NGUYỄN CAO KỲ

Nguyễn Cao Kỳ bị gọi nhập ngũ Khoá 1 Nam Định năm 1951. Ngày 23.12.1950, Nghị Định thành lập Trừơng Sỉ Quan Trừ Bị Thủ Đức ở miền Nam, và Trừơng Sỉ Quan Trừ Bị Nam Định ở miền Bắc. Khóa 1 sĩ quan trừ bị được gọi là Khóa 1 Lê Văn Duyệt đã diển ra tại 2 nơi vào cùng ngày 1.10.1951. Nguyễn Cao Kỳ đi nhập ngũ ở Nam Định, có 218 sĩ quan tốt nghiệp. Sau khi tốt nghiệp, ông được chọn đi đào tạo tại trường không quân Marrakech ở Maroc.

Trong cuộc đảo chánh năm 1963, vai trò của Nguyễn Cao Kỳ không có gì đáng nói. Vai trò của ông chỉ nổi bật khi Mỹ quyết định dùng ông làm thủ tướng để dẹp cuộc nổi loạn của Phật giáo. Để tăng thêm uy tín cho Tướng Kỳ, ngày 8.11.1965, Tướng Kỳ được mời qua thăm Nam Hàn, nơi đây ông được cấp Tiến Sĩ Danh Dự đại học Kyughui ở Hán Thành.

Tôi đã phỏng vấn Tướng Nguyễn Cao Kỳ trong 6 buổi tối liên tiếp, có anh Lê Vũ, chủ website Ký Con, quay phim thu hình. Tôi muốn tìm hiểu thêm cuộc dẹp loạn miền Trung và việc ông tranh chấp với Tướng Thiệu trong cuộc bầu cử năm 1967. Ông Kỳ đúng là ruột ngựa, có gì nói hết. Nhưng rất tiếc ông biết rất ít, những điều ông kể tôi đã biết hết rồi.

Tôi hỏi ông tại sao lúc đó Việt Nam lại đoạn giao với Pháp, ông ngập ngừng rối nói không hiểu tại sao lúc đó mình đã làm như vậy. Tôi hỏi về quyết định và kế hoạch hành quân dẹp Phật Giáo miền Trung, ông cho biết quyết định là do ông, còn kế hoạch hành quân giao cho Nguyễn Ngọc Loan!

Với chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc gia kiêm Giám Đốc An Ninh Quân Đội, Nguyễn Ngọc Loan nắm trong tay lực lượng an ninh và giải quyết các biến cố đã xẩy ra tại miền Nam. Tướng Kỳ chỉ nghe báo cáo và gật đầu mà thôi.

Tướng Nguyễn Ngọc Loan học trường Providence (Thiên Hữu) ở Huế, vừa đậu Tú Tài xong thì đi động viên, học khoá 1 Lê Văn Duyệt ở Thủ Đức, còn Nguyễn Cao Kỳ học ở Nam Định. Nguyễn Ngọc Loan được đi thụ huấn khóa phi công tại Trường Không Quân Salon-de-Provence ở Pháp.

Năm 1967, Tướng Kỳ lập liên danh với Luật sư Nguyễn Văn Lộc ra tranh cử Tổng Thống với Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Ngoài ra còn 10 liên danh khác.

Tướng Trần Văn Đôn cho biết, trong phiên họp tiền hội nghị, các tướng lãnh quyết định hai liên danh Thiệu – Kỳ phải nhập chung, Kỳ làm Tổng Thống, Thiệu làm Phó Tổng Thống. Nhưng tối đó Mỹ đi gặp một số tướng lãnh để bàn thảo và thuyết phục các tướng rằng Tướng Kỳ bồng bột, bốc đồng... không làm Tổng Thống được, nên sáng hôm sau các tướng lại quyết định Tướng Thiệu làm Tổng Tống vì lớn tuổi hơn và thâm niên hơn. Bù lại, Tướng Thiệu đồng ý giao cho người của Tướng Kỳ là Luật sư Nguyễn Văn Lộc làm Thủ Tướng. Ngoài ra, theo đề nghị của Tướng Nguyễn Đức Thắng, Hội Đồng Tướng Lãnh được thành lập do Tướng Kỳ làm chủ tịch. Hội đồng này có nhiệm vụ giám sát hành pháp. Nhưng khi đắc cử rồi, Tướng Thiệu không cần biết Hội Đồng Tướng Lãnh và nói chỉ thi hành Hiến Pháp. Tướng Thiệu tập trung mọi quyền hành nên chính phủ Nguyễn Văn Lộc chẳng làm được gì. Sau đó, Mỹ đưa Tướng Trần Thiện Khiêm về làm Bộ Trưởng Nội Vụ rồi làm Thủ Tướng thay Luật sư Nguyễn Văn Lộc.

(Xem Việt Nam Nhân Chứng, 1989, tr. 379 – 382).

Trong cuốn “Decent Interval” Frank Snepp nói rõ người được Mỹ chọn làm tổng thống “phải tuân theo chính sách của chính chúng tôi, vừa có những tay sai (agents) có chất lượng để thi hành chính sách đó.” Sở dĩ tướng Thiệu được chọn vì là “một viên tướng miền Nam bình thường và coi như phi chính trị (modest, supposedly non-political)”. Frank Snepp cho biết Mỹ đã “củng cố bằng mọi giá chính phủ Thiệu, để cho nước Mỹ có thế rút quân ra khỏi Việt Nam mà không sợ nổ ra một cuộc khủng hoảng chính trị mới”.

Với Tướng Kỳ, Frank Snepp viết: “Đại sứ Bunker không hề lo sợ về Kỳ và phe cánh của Kỳ. Dần dần, ông gạt được họ ra và chỉ nói về những vấn đề chính trị với Thiệu mà thôi. Một “cú ân huệ” (coup de grâce) đã đến với Kỳ trong cuộc tấn công của Cộng Sản năm 1968 khi một số trong các đồng minh thân tín đầy quyền lực của ông ta bị giết.”

Đó là một thái độ rất phủ phàng của người Mỹ đối với Tướng Kỳ, Tháng 6 năm 1968 tôi đang ở Washington và thường đến chơi với Tướng Nguyễn Chánh Thi. Một buổi sáng, ông kêu điện thoại cho tôi rất sớm và bảo tôi qua ăn sáng nói chuyện, Khi tôi vừa qua, ông vứt tờ Washington Post cho tôi và nói: “Tướng lãnh mình làm ăn như vậy đó, chẳng còn ra thể thống gì”. Tôi xem và thấy có bài loan tin Tướng Kỳ buôn thuốc phiện lậu. Tôi xem xong và nói với Tướng Thi: Chuyện này không có đâu. Mỹ muốn loại Tướng Kỳ nên nói như vậy. Trước đây Trung Tướng có đau mũi đâu, thế mà họ loan tin Trung Tướng đau mũi và bắt đi Hoa Kỳ chửa bệnh. Tướng Thi suy nghĩ một lúc và nói: “Anh nói đúng!”. Ngày 7.5.1968, khi đang chỉ huy hành quân ở khu đường Tự Đức, Đa Cao, Tướng Nguyễn Ngọc Loan bị cộng quân bắn trọng thương, gảy cả hai chân, con đường sự nghiệp của Tướng Kỳ và Tướng Loan coi như chấm dứt từ đó.

Ra hải ngoại, cuộc sống của Tướng Kỳ đã được đàn em và những người thân tín của ông mô tả khá đầy đủ. Ông chỉ tham gia vào chính trị khi lấy bà vợ thứ ba là bà Lê Hoang Kim Nicole, một người đàn bà được báo chí mô tả là “người buôn tổng thống”.

Trong những lần ngồì nói chuyện riêng với ông, tôi đã phân tích cho ông thấy, dù đối đầu với CSVN bằng chiến tranh lạnh hay bằng “diễn biến hòa bình”, người Việt quốc gia cũng đều bị Mỹ xử dụng như công cụ, mình chẳng làm được gì đâu. Ông cũng đồng ý với tôi như vậy, nhưng tướng quân khó “qua ải mỹ nhân”.

Bà Kim đã dẫn ông về Việt Nam dưới chiêu bài “sứ giả cho sự hoà giải và kết hợp đại đoàn kết dân tộc”, nhưng trong thực tế là đi làm “affair”. Bước đầu là đưa hai tập đoàn Andy Dye và Three về Việt Nam thiết lập sân golf ở khu du lịch Tuần Châu, Quảng Ninh, sau đó vận động mở sòng bài, v.v.

Dĩ nhiên, báo trong nước khai thác ngay sự ngây thơ của Tướng Kỳ để chơi đòn phản gián. Báo Tuổi Trẻ và báo Thanh Niên đã phỏng vấn ông tại khách sạn Sheraton ở Sài Gòn vào cuối năm 2004, và đăng lại trên hai tạp chí này. Căn cứ vào các bài phỏng vấn đó, các báo khác đưa ra những lời bình luận rất nặng nề, như Tướng Kỳ nói “Chúng tôi là những kẻ đánh thuê” hay “Quân đội miền Nam, không có ai đáng giá cả, kể từ ông Nguyễn Văn Thiệu...”, v.v.

Đọc những lời này ông Kỳ đã viết một lá thư yêu cầu báo Thanh Niên cãi chính, trong đó ông nói: “Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ tôi lại căn cứ vào một số ít phần tử xấu để mạ lỵ cả một tập thể to lớn đã từng chia xẻ ngọt bùi với tôi, mà tôi biết về họ một cách đầy đủ và tường tận.” Ông cho rằng “người viết bài báo trên quá ấu trĩ, không đủ tư cách, không đủ hiểu biết để đề cập đến một lãnh vực hết sức hệ trọng và tế nhị có liên quan đến một giai đoạn lịch sử của dân tộc”.

Chẳng có báo nào trong nước đăng bài cãi chính của ông. Ở hải ngoại tôi chỉ tìm thấy trên DCVOneline ngày 24.4.2005. Ông Kỳ vốn bạo mồn bạo miệng, nên khó mà biết chuyện gì đã thật sự xầy ra. Dĩ nhiên, người Việt chống cộng vốn tự xưng là “đi guốc trong bụng cộng sản”, đã chụp lấy ngay và “dạy cho ông Kỳ một bài học”.

NHÌN CON BÀI MỸ CHỌN

Nếu so sánh ông Kỳ với ông Thiệu, chúng tôi thấy hai ông đều yếu kém như nhau: Cả hai biết rất ít về cả chính trị lẫn quân sự, không có tầm nhìn chiến lược và không biết làm việc theo phương pháp khoa học.

Nhưng ông Kỳ hơn ông Thiệu là luôn hành động theo quyết định của tập thể. Mọi quyết định quan trọng đều được đưa ra ban tham mưu và ban cố vấn bàn rồi mới quyết định phải hành động như thế nào. Ông Kỳ không sợ Mỹ. Nhưng ông Kỳ có khuyết điểm nặng là không theo sát việc thi hành, để đàn em muốn làm gì thì làm.

Ông Thiệu trái lại, luôn bị ám ảnh bởi cái chết của ông Diệm mà ông là một trong những nguời có trách nhiệm chính, nên luôn sợ bị Mỹ giết. Có nhiều khi ông tranh luận với Mỹ rất gay cấn nhưng cuối cùng ông cũng làm theo ý họ.

Ông Thiệu lại có thói quen suy nghĩ và hành động theo cảm tính, hỏi ý kiến chỉ để lấy lệ, mọi chuyện đều do ông quyết định theo ý nghĩ riêng của mình, không cần biết tình trạng thật sự đang diễn biến như thế nào. Ông lại thường tìm cách tránh né trách nhiệm bằng cách đưa ra những chỉ thị mập mờ và nếu thất bại sẽ đổ trách nhiệm cho thuộc cấp.

Lúc 2 giờ chiều ngày 7.9.1963, Đại Sứ Cabot Lodge đã gởi cho Bộ Ngoại Giao một công điện kể lại lời ông Ngô Đình Nhu đã nói với ông như sau:

“Tôi báo động về những gì sẽ xẩy ra trong Quân Lực. Nếu tôi ra đi, Quân Lực sẽ nắm chính quyền. Bọn cóc nhái của CIA và USIS này sẽ phá hoại nỗ lực chiến tranh.”

Lời tiên báo này đã trở thành hiện thực. VNCH có một quân đội thiện chiến, có tinh thần chiến đấu cao, được trang bị đầy đủ, nhưng đã bị thất trận một cách nhanh chóng vì những tướng mà người Mỹ đưa ra lãnh đạo họ là những thành phần thiếu khả năng, thiếu tinh thần trách nhiệm, chỉ biết nhận viện trợ và thi hành chính sách của Mỹ.

Ngày 26.7.2011

Lữ Giang

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

Sau 40 năm bí mật của Hoa Kỳ

;

Sau 40 Năm Bí Mật

Hoàng Duy Hùng

Đầu mùa hè năm 2011, thế giới lên cơn sốt về việc Trung Cộng tạo căng thẳng ở Biển Đông thì ai nấy đều ngóng trông nơi Hoa Kỳ với niềm hy vọng Hoa Kỳ sẽ là cứu tinh giúp họ đối phó với mộng bành trướng của Trung Cộng.  Nhưng ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho giải tỏa (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan hơn 40 năm trước làm cho niềm tin của nhiều người nơi Hoa Kỳ tan thành mây khói.  Sau đó, National Security Archive ở George Washington University đưa ra thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại đi vào chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai càng làm cho nhiều người nhìn ra sự thật phũ phàng Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự làm hòa và giao thương với Trung Cộng.

Tài liệu này tung ra làm cho hồi ký của Kissinger xuất bản năm 1979 (The Memoirs) không còn giá trị vì nhiều điều trong hồi ký của Henry Kissinger viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Hồi ký của Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân. Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ là tối thượng cho dầu chính sách này đưa đến sự phản bội những đồng minh cũng như phải dấu diếm và lừa cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ.

Đầu thập niên 1970s, Hoa Kỳ thay đổi sách lược bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô buộc Hoa Kỳ phải hất Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Trung Cộng vào thay thế vị trí này. Cách đây 40 năm, Hoa Kỳ đã công nhận chỉ có một nước Trung Quốc, và Đài Loan cũng chỉ là một tỉnh của Trung Quốc với một thể chế đặc biệt!! Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này 40 năm và sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách này cho đến khi Đài Loan danh chính ngôn thuận thống nhất với Trung Quốc, và thường thì khi sự thống nhất xảy ra, Trung Quốc lúc đó có thể chế đa đảng. 

Tài liệu cũng cho thấy Trung Cộng đặt điều kiện giải quyết vấn đề Đài Loan đi đôi với giải quyết chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để cho Cộng Sản Việt Nam chiếm cả nước, và Hoa Kỳ phủi tay trong một thời gian vài thập niên bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng tạo ảnh hưởng. Tài liệu cho thấy khi ấy Bắc Việt rất bối rối và chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B52 bỏ bom ở Hà Nội, và nếu Hoa Kỳ tiếp tục bỏ bom thêm 2 tuần nữa thì Hà Nội có lẽ đã đầu hàng, nhưng vì đã thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom như một hình thức vất đi chiến thắng đang ở trong tầm tay!   Cũng vì chính sách này nên tháng Giêng năm 1974, Trung Cộng đưa hải quân đánh Hoàng Sa, Hải Quân VNCH chiến đấu và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu nhân đạo thôi thì Đệ Thất Hạm Đội nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu nhưng vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan ức tại Biển Đông.

Tại sao Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tiết lộ những bí mật này?  Có phải họ có lòng thành tiết lộ những bí mật đầy lừa lọc và phản trắc đối với các đồng minh của họ?  Bí mật lịch sử đã vén màn, liệu những đồng minh của Hoa Kỳ có còn tin tưởng nơi Hoa Kỳ như họ đã có trước đây?

Thật ra Hoa Kỳ ở trong tình thế không thể giữ bí mật lâu dài được nữa vì trước đây những chi tiết này đã rò rỉ ra ngoài hầu hết rồi và nếu cứ tiếp tục dấu diếm những điều mà mọi người đã đoán biết thì hệ quả của nó còn tai hại hơn cả việc tiết lộ.  Cách đây 40 năm, ông Daniel Ellsberg đã tiết lộ những bí mật này cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ.  Ngày hôm nay, Văn Khố Quốc Gia tung ra những tài liệu cách đây 40 năm chỉ là để xác nhận cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác, thôi, mọi người đừng đoán già đoán non nữa.

Ông Daniel Ellsberg là  người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago (sinh ngày 7/4/1931), là một người phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội.  Ông từng là nhân viên của RAND Corporation.  Rand là chữ viết tắt của Research and Development, một công ty bất vụ lợi chuyên phân tích tình hình cho Quân Đội Hoa Kỳ và Doughlas Air Company là một công ty chế tạo các vũ khí cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ.  Rand có 1600 nhân viên và trong 1600 nhân viên này có những người làm cho tình báo Hoa Kỳ.

Năm 1954, sau khi tốt nghiệp ở Harvard, Daniel Ellsberg gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ.  Ông ra trường đứng đầu lớp cả 1000 người.  Mang lon Thiếu Uý, ông trở thành tiểu đội trưởng.  Sau 2 năm phục vụ cho Hải Quân, ông được trở về công việc dân sự, ông tiếp tục học ở Harvard và tham gia giúp Rand chuyên phân tích tình hình quân sự.  Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ Quốc Phòng và ông tham gia biến cố hạm đội USS Maddox xảy ra ở Vùng Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin) năm 1964. Khi ấy Hoa Kỳ nói rằng Bắc Việt tấn công hạm đội USS Maddox để lấy cớ đó tấn đánh Bắc Việt nhưng bây giờ tài liệu đã giải mã, chính Hoa Kỳ dàn dựng vụ này hơn là Bắc Việt.  Năm 1965, ông được chuyển sang làm Bộ Ngoại Giao đặc trách phân tích tình hình Việt Nam.  Năm 1967, ông trở về làm cho Rand và cho Bộ Quốc Phòng, trực tiếp chịu trách nhiệm với Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Năm 1969, ông không có thiện cảm sách lược của Hoa Kỳ với Cuộc Chiến Việt Nam và sau khi nghe Randy Kehler (sinh năm 1944), một trong những người phản chiến thuyết trình cách hùng hồn, ông Daniel Ellsberg trở thành một trong những người chống chiến tranh. Sau khi đã có thiện cảm với nhóm phản chiến và ở cương vị là một người có thể tiếp xúc được những tài liệu tối mật của quốc gia, cùng với Anthony Russo (1934-2008) làm ở Rand, Daniel Ellsberg bí mật sao lại (copy) nhiều tài liệu tối mật và rò rỉ ra ngoài cho báo chí biết. Tài liệu rò rỉ bí mật này được giới truyền thông Hoa Kỳ đặt tên cho là Pentagon Papers. Năm 1970, Daniel Ellsberg cố gắng ảnh hưởng trên các Thượng Nghị Sĩ bằng cách thuyết phục các đổng lý văn phòng (chiefs-of-staff) của các Thượng Nghị Sĩ những tàn hại về Chiến Tranh Việt Nam.

Chủ Nhật ngày 13/6/1971, lần đầu tiên báo Times đăng trích đoạn từng phần 7000 trang Pentagon Papers.  Tổng Thống Richard Nixon và Henry Kissinger bị cú đấm bất ngờ, lập tức phản ứng cách hung hãn, cách chức nhiều người họ nghi hoặc. Tổng Thống Nixon nói: “Hãy cách chức ngay những tên đầu não.”  Nội các của Tổng Thống Nixon nộp đơn khẩn cấp xin Tối Cao Pháp Viện ngăn cấm không cho Times và các báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật của Quốc Phòng.  Times và các cơ quan truyền thông báo chí nhất quyết không chịu tiết lộ Daniel Ellsberg là nguồn gốc nhận tin của họ.  Daniel Ellsberg phải trốn chui trốn nhủi trong bí mật cả 2 tuần.  Sau 2 tuần, Tối Cao Pháp Viện phán quyết Times có quyền tiếp tục đăng tải những thông tin tối mật của Bộ Quốc Phòng được rò rỉ tới họ vì đây là Tự Do Ngôn Luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất.  Phán quyết này như một cú tát tai vào mặt nội các của Tổng Thống Richard Nixon.

Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg và bạn đồng nghiệp Anthony Russo nộp mình cho FBI ở Boston Massachussett.  Chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ truy tố 2 người vi phạm Đạo Luật Tình Báo Năm 1917 (Espionage Act 1917).  Sau 2 năm điều tra và nhiều biến chuyển, vào tháng 5 năm 1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này. Sau vụ án này, Daniel Ellsberg đi thuyết trình nhiều nơi về các đề tài chính trị cũng như những bí mật lịch sử liên quan đến Việt Nam và Đài Loan. 

Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã tiết lộ những bí mật cách đây hơn 40 năm và hiện nay Daniel Ellsberg còn sống và còn đi thuyết trình những vấn đề đó nên Văn Khố Quốc Gia chấp nhận bạch hóa hồ sơ.  Khi bạch hóa hồ sơ thì một hình thức nào đó họ cũng xác nhận chính sách của Hoa Kỳ là “quyền lợi của Hoa Kỳ là tối thượng” nên sẵn sàng bất chấp cả sự phản bội đối với đồng minh để đạt mục tiêu. Trong tương lai, những ai muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải biết điều này mà trong luật họ gọi đó là caveat emptor – let the buyer beware, làm bạn với Mỹ và nếu Mỹ đâm sau lưng cách bất ngờ thì đừng có than trời trách đất.

Lời Kết: Hoa Kỳ là siêu cường số 1 trên thế giới hiện nay nên không giao dịch hoặc làm bạn với Hoa Kỳ thì thiệt hại rất nặng nề. Làm bạn với Hoa Kỳ thì phải biết được ưu và khuyết điểm của Hoa Kỳ, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng nơi Hoa Kỳ để rồi không biết tự xây dựng thực lực cho chính bản thân mình thì có ngày vì quyền lợi của Hoa Kỳ, họ bán đứng không kịp trở tay thì đau lòng vô cùng.   Trở lại vấn đề Biển Đông,  chắc Hoa Kỳ và Trung Cộng đã có một thỏa thuận ngầm gì ở đàng trong rồi nên Bộ Trưởng Quốc Phòng của Trung Cộng là Trì Hạo Điền mới dám mạnh miệng tuyên bố với Hoa Kỳ là “hãy chia đôi Thái Bình Dương” và trong tháng 6/2011 Bắc Kinh đổ hơn 1000 tỷ Mỹ Kim mua công khố phiếu của Hoa Kỳ.  Chỉ có chế độ đa đảng và sự đoàn kết của người Việt trong và ngoài nước thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Thiếu một trong 2 yếu tố này, nguy cơ mất nước của Việt Nam rất là gần kề./.