Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

Một chiến lược đầy tham vọng và nghiệt ngã

Trong tuần qua hấu hết các cơ quan truyền thông tại Hoa Kỳ đã nhắc đi nhắc lại vụ ký giả Mỹ James Foley đã bị một một chiến binh thuộc nhóm Nhà Nước Hồi Giáo (Islamic State - IS) cắt cổ. Một số chú ý đến việc IS mở cuộc tấn công vào vùng của người Kurd ở phía bắc Iraq, bị không quân Hoa Kỳ ngăn chận, đã quay lại tấn công một phi trường ở Syria, tàn sát một cách dã man khoảng 200 người, và đặt ra câu hỏi: Liệu Hoa Kỳ có oanh kích phiến quân IS ở Syria như đã làm ở phía bắc Iraq hay không?

Muốn trả lời câu hỏi này, cần phải xác định lại một lần nữa chiến lược một “Trung Đông Mới” của Hoa Kỳ, mục tiêu và diễn biến của chiến lược này. Đây là một vấn đề khá phức tạp, nhưng chúng ta cố gắng tìm hiểu vì nó liên hệ đến nhiều biến cố lớn trên thế giới và chính nó đã đẻ ra vấn đề Biển Đông. Chiến lược này sẽ được tiếp tục triển khai theo các diễn biến của nó.

NHỮNG TỪ NGỮ BÍ HIỂM

Ngày 17.8.2006, Tổng Thống Bush tuyên bố rằng một “Trung Đông Mới sẽ xuất hiện trong đó nền dân chủ sẽ chứng tỏ là một sức mạnh không thể kháng cự lại, sẽ lan rộng và hủy diệt khủng bố và chế độ chuyên chế” (would spread and eradicate terrorism and despotism).

Lời tuyên bố này đã tóm toàn bộ chiến lược của Hoa Kỳ về Trung Đông.

Lúc đầu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã nói đến một “Trung Đông Lớn Hơn” (Greater Middle East) hay một “Trung Đông Rộng Hơn” (Broader Middle East), nhưng trong chuyến viếng thăm Do Thái và Âu Châu vào tháng 6 năm 2006, khi họp báo tại Tel Aviv, Do Thái, bà Ngoại Trưởng Condoleezza Rice đã dùng danh từ một “Trung Đông Mới” (New Middle East) thay hai danh từ nói trên (xem bản tin cuộc họp báo ngày 21.7.2006 tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ).

Một “Trung Đông Mới” là cái gì mà có thể lan rộng và diệt trừ khủng bố và chế độ chuyên chế? Lời tuyên bố của Tổng Thống Bush lẫn bà Ngoại Trưởng Rice đều chứa những từ ngữ bí hiểm. Các nhà phân tích đã viết khá nhiều bài về những từ ngữ này. Dona J. Stewart đã viết một cuốn sách với tên là “The Greater Middle East and Reform in the Bush Administration's Ideological Imagination” để nói về những bí hiểm này. Nhưng có thể nói đây là một chiến lược đầy tham vọng và nghiệt ngã.

Nhìn vào bản đồ một "Trung Đông Mới” được công bố chúng ta thấy Trung Đông mới bao gồm 22 nước Hồi Giáo của thế giới A-rập, thêm Thổ Nhĩ Kỳ, Do Thái, Pakistan và Afghanistan.

Bản đồ Trung Đông Mới do báo New York Times công bố ngày 28.9.2013, trong đó 5 nước Hồi Giáo A-rập sẽ trở thành 14 nước. Iraq bể thành 3 nước như hiện nay. Lybia và Syria cũng sẽ bể thành 3, còn Yemen có thể bể thành 4, v.v. Không lẽ “dân chủ” có sức mạnh đến như vậy sao?

THỰC HIỆN KẾ “SẤN HỎA ĐẢ KIẾP”

Khi cuộc “cách mạng hoa lài” bùng nổ ở một số nước A-rập, nhiều người Việt đấu tranh tin rằng sau khi đem dân chủ đến cho một số nước chuyên chế tại Trung Đông, cuộc “cách mạng hoa lài” sẽ đem dân chủ đến cho Việt Nam. Nhưng tưởng vậy mà không phải vậy! Ông Putin cho rằng “cách mạng hoa lài” không đem lại “mùa xuân A-rập” mà đem lại ác mộng!

Trong “Tam thập lục kế” của Tàu, có kế thứ 7 là “sấn hỏa đã kiếp”, có nghĩa là theo lửa mà đánh cướp, tức theo lửa mà hành động. Kế này có hai phương thức chính: Phương thức thứ nhất là lợi dụng lúc lửa cháy, tức lúc thời thế rối loại, nương theo đó mà làm cho hỗn loạn thêm rồi thực hiện ý đồ của mình. Phương thức thứ hai là tự phóng hỏa, tức tự tạo nên tình thế hỗn loạn rồi nương vào đó thực hiện điều ta muốn. Khi thực hiện chiến lược “Trung Đông Mới” Hoa kỳ đã dùng cả hai phương thức này.

Như chúng tôi đã nói nhiều lần, kế hoạch Trung Đông của Hoa Kỳ nhắm ba mục tiêu chính sau đây:

(1) Thanh toán các lãnh tụ Hồi Giáo có chủ trương hình thành một chính quyền mạnh có thể lãnh đạo khối Hồi Giáo gióng như đế chế Ottoman ngày xưa.

(2) Nghiền nát hay hủy diệt (eradicate) khối Hồi Giáo cực đoan bằng cách khống chế, phân hóa và để chúng tự thanh toán nhau.

(3) Tìm cách khai thác tối đa dầu lửa ở Trung Đông và loại dần Nga và Trung Quốc ra khỏi Trung Đông.

Nhưng cho đến nay chưa có mục tiêu nào hoàn tất. Với mục tiêu thứ nhất, Hoa Kỳ chỉ mới thanh toán được Saddam Hussein, Mubarak và Gaddafi, còn hai nhân vật nguy hiểm khác là Bashar al-Assad của Syria và Giáo chủ Ayatollah Ali Khamenei của Iran thì chưa thanh toán được. Với mục tiêu thứ hai, dù ở Iraq, Libya hay Syria, kế hoạch nghiền nát khối Hồi Giáo cực không còn kiểm soát được. Với mục tiêu thứ ba, Hoa Kỳ đang phải đối phó vất vả với Nga ở Iran, Syria và Ukraina, và với Trung Quốc ở Biển Đông.

Chiến thuật “Sán hỏa đả kiếp” hình như đang trở thành “gậy ông đập lưng ông”?

BÃI LẦY SYRIA VÀ IRAQ

Sở dĩ Hoa Kỳ chọn Iraq làm mục tiêu tấn công đầu tiên, không cần sự đồng ý của Hội Đồng Bảo An LHQ vì hai lý do chính:

Lý do thứ nhất là vì Iraq có một trữ lượng dầu lửa rất cao, có thể đem lại một nguồn lợi lớn. Với trữ lượng dầu lửa 143,1 tỷ thùng (2,275×1010 m3) đã được xác định, Iraq được xếp hạng thứ 2 trên thế giới sau Saudi Arabia. Sản lượng dầu đạt 3,4 triệu thùng/ngày vào tháng 12 năm 2012 và dự trù sẽ tăng đến 5 triệu/ngày vào năm 2014 nếu không có gì trở ngại. Hiện nay tại Iraq mới chỉ có khoảng 2.000 giếng dầu đã được khoan, trong khi ở Hoa Kỳ, chỉ riêng tiểu bang Texas đã có khoảng 1 triệu giếng. Do đó, triển vọng ở Iraq rất lớn.

Lý do thứ hai là Hoa Kỳ hy vọng khối Shiite đa số (60%) và khối người Kurd ở bắc Iraq (khoảng 15%) sẽ giúp Hoa Kỳ ổn định tình hình. Nhưng khối Sunni chiếm đa số ở Trung Đông đã dùng chiến thuật khủng bố của Taliban để chống lại khiến tình hình Iraq không bao giờ ổn định được và việc khai thác dầu đang gặp nhiều trở ngại.

Sau Iraq, mục tiêu tiếp theo của Hoa Kỳ là Syria. Ngày 22.7.2006, Tổng Thống Bush tố cáo Syria và Iran đã yểm trợ cho Hezbollah và các du kích quân Shiite ở Lebanon chống lại Israel. Bà Ngoại Tưởng Rice viết trên tờ Washington Post rằng Nghị quyết cấm vận số 1701 của LHQ là một sự thất bại của Iran và Syria. Nhưng năm 2011, để giúp Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy tái đắc cử, Tổng Thống Obama đã ủng hộ cuộc tấn công Libya do Pháp dẫn đầu. Ngày 20.3.2011, tờ Los Angeles Times ở Mỹ đã đăng bài “As France takes the reins on Libya, Sarkozy triumphs” của Kim Willsher nói rõ âm mưu này. Gaddafi đã bị giết, nhưng Sarkozy vẫn thất cử! Mỹ quay lại tìm cách thanh toán Bashar al-Assad.

Một tổ chức có tên là “Quân Đội Syria Tự Do” (Free Syrian Army - FSA) được cơ quan tình báo Hoa Kỳ thành lập tại Thổ Nhĩ Kỳ do cựu Đại tá Riad Assad của Quân Đội Syria làm Tư lệnh, kêu gọi các binh sĩ Syria đào ngũ và tham gia FSA chống lại Bashar al-Assad. Quân đội này được đưa qua Qatar huấn luyện và trang bị rồi cho xâm nhập vào Syria. Trận đánh đầu tiên đã xảy ra ngày 15.12.2011 khiến 27 quân nổi dậy bị tử nạn.

Nhưng khi FSA mở các cuộc tấn công, nhiều tổ chức khác của khối Sunni ở Trung Đông, nhất là các nhóm al-Qaeda, cũng nhảy vào tham chiếm làm cho tình hình rối loạn. Theo tài liệu của LHQ công bố, quân nổi dậy ở Syria có đến 600 nhóm, trong đó có hơn 300 nhóm mang lá cờ đen, biểu tượng của phe Thánh Chiến Hồi Giáo, nổi tiếng nhất là “Mặt trận al-Nusra” (Al-Nusra Front) của al-Qaeda do Abu Mohammed al-Joulani lãnh đạo và “Nhà Nước Hồi Giáo Irak” (Islamic State of Iraq - ISI) của Abu Bakr al-Baghdadi. Có khoảng 3000 quân tình nguyện từ các nước Tây phương và các nước Hồi Giáo ở xung quanh đã đến Syria để tham gia hai tổ chức này. Họ chẳng những chống Tổng Thống Assad mà chống cả Quân Đội Syria Tự Do và chống nhau. Nhiều cuộc chiến đẫm máu đã xảy ra. Họ hành quyết chiến binh của nhóm khác gióng như hành quyết những kẻ thù của Hồi Giáo. Abu Sakkar, người lãnh đạo đơn vị Omar al-Farouq al-Mustakila, đã đè lên thi thể một chiến binh của nhóm khác và nói: “Chúng ta thề trước Thượng đế là sẽ ăn tim gan bọn bay.” Các chiến binh khác đứng xem với ánh mắt đầy thích thú. Nhân loại đang trở về thời trung cổ.

TÍNH HÌNH ĐANG DIỄN BIẾN PHỨC TẠP

Ngoài những võ khí tối tấn mà Nga đã cung cấp cho Syria để chống lại cuộc tấn công của Mỹ và Tây phương, các tổ chức kháng chiến ở Syria gặp nhiều khó khăn khi phải đối phó với các xe tăng và trực thăng chiến đấu của Syria, nhất là T-90S của Nga. Vì thế, Hoa Kỳ đã bán cho Saudi Arabia 15.000 hỏa tiễn chống tăng BCM-71 TOW của Tập Đoàn Raytheon, trị giá trên 1 tỷ USD. Saudi Arabia còn mua khoảng 4.000 hỏa tiển chống tăng Konkurs của Nga. Tất cả để cung cấp cho Quân Đội Syria Tự Do. Điều oái oăm là đa số hỏa tiễn này và nhiều vũ khí khác do Saudi Arabia cung cấp cho FSA đã lọt vào tay của các nhóm al-Qaeda!

Tháng 12/2013 al-Baghdadi đã đề nghi với al-Joulani sát nhập Mặt Trận al-Nusra với ISI để quay lại đánh chiếm Iraq, nhưng Joulani từ chối. Một cuộc chiến đã xảy ra giữa hai lực lượng khiến khoảng 3.000 chiến binh bị giết. Sau đó, đa số tình nguyện quân từ ngoại quốc đến đã bỏ Mặt Trận al-Nusra và gia nhập ISI. Số quân của ISI lên đến từ 8.000 đến 12.000, còn Mặt Trận Nusra chỉ còn khoảng 3.000.

Đầu tháng 6/2014 ISI bắt đầu đánh chiếm các thành phố phía bắc Iraq. Hôm 17.6.2014 ISI chiếm thành phố Baquba chỉ cách thủ đô Baghdad khoảng 60 cây số, nhưng Mỹ chỉ gởi 275 binh sĩ tới bảo vệ sứ quán Mỹ. ISI tuyên bố thành lập Nhà Nước Hồi Giáo (Islamic State – IS). Kết quả, IS đã chiếm được 5 mỏ dầu lớn và nhà máy lọc dầu Baiji của Iraq, cách thủ đô Baghdad 200 km, mỗi ngày có thể cung cấp khoảng 300.000 thùng.

Đầu tháng 8, khi IS tấn công vào vùng Sinjar của người Kurd và đập thủy điện Mossoul ở vùng cực bắc Iraq thì Tổng Thống Obama ra lệnh không quân can thiệp “để bảo vệ người dân”. Vùng người Kurd quản lý có các mõ dầu chứa khoảng 45 tỷ thùng dầu, hiện đang được các công ty sau đây khai thác: Exxon, Total, Chevron, Talisman Energy, Genel Energy, Hunt Oil, Gulf Keystone Petroleum, and Marathon Oil. Mỹ can thiệp là chuyện chẳng có gì khó hiểu.

Không làm ăn được trong vùng dành cho người Kurd, IS quay lại Syria. Hôm 23.8.2014 IS đã tấn công căn cứ không quân Tabqa, gần thành phố Raqqa của Syria. Tại đây có khoảng 1.400 binh sĩ và 700 người. Họ đã tìm cách trốn thoát. Tuy nhiên, khoảng 200 người đã bị IS bắt lại và hành quyết hôm 27.8.2014. Liệu Mỹ có oanh kích lực lượng IS ở Syria như ở bắc Iraq không?

“ĐỂ CHO CHÚNG NÓ GIẾT NHAU”?

Về dầu lửa và khí đốt, hôm 4.7.2014, IS đã đánh bật Mặt Trận Nusra ra khỏi nhà máy lọc dầu al-Omar, một nhà máy lớn nhất ở Syria. Nhưng nhà máy này chỉ còn sản xuất khoảng 30.000 thùng dầu/ngày. Các nhà phân tích cho biết nguồn dầu của Syria bắt đầu cạn dần và không còn hấp dẫn đối với Mỹ nữa.

Việc can thiệp bằng không quân vào Syria cũng không dễ vì hiện nay Nga đã cung cấp cho quân đội Syria những giàn hỏa tiễn địa đối không rất hữu hiệu và đây là những giàn lưu động nên khó phá hủy như của Iraq hay Libya trước đây. Ngoài ra, còn phải đề phòng phản ứng của cả Nga lẫn Trung Quốc.

Hôm 25.8.2014, Ngoại trưởng Syria tuyên bố Damas sẵn sàng hợp tác với cộng đồng quốc tế, kể cả với Washington, để chống lại Nhà Nước Hồi Giáo, nhưng mọi cuộc tấn công tại Syria, đều phải được thực hiện trong hợp tác với chính quyền, nếu không sẽ bị coi là “hành động xâm lược”.

Bản tin của AFP hôm 27.8.2014 cho biết Hoa Kỳ bắt đầu các chuyến bay do thám trên không phận Syria để xác định các vị trí của các nhóm quân của Nhà Nước Hồi Giáo, nhưng cam đoan không hợp tác với chính quyền Syria chống kẻ thù chung. Phát ngôn viên của Tòa Bạch Ốc Josh Earnest nói: “Không có bất cứ một dự án hợp tác nào với chế độ Damas, vào thời điểm chúng ta đang phải đối đầu với đe dọa khủng bố”.

“Để cho chúng nó giết nhau” cũng nằm trong chiến lược hủy diệt (eradicate) các nhóm Hồi Giáo cực đoan mà Hoa Kỳ đã đưa ra. Tại sao lại phải can thiệp? Tuy nhiên, lãnh tụ cực đoan Abu Bakr al-Baghdadi của Nhà Nước Hồi Giáo phải được thanh toán như Bin Laden và Anwar al-Awlaki .

Chiến lược một "Trung Đông Mới" của Hoa Kỳ phải mất từ 10 đến 20 năm mới thấy hiệu quả. Nó không phải là một thứ "mì ăn liền" như một số người Việt đấu tranh tưởng.

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

Chiến tranh Iraq

Đây là một cuộc chiến điển hình về nghệ thuật ‘tạo cớ’ và khả năng ‘vượt mặt’ Liên Hợp Quốc để hành động.

Mười năm về trước, lực lượng đa quốc gia do Mỹ đứng đầu bất ngờ ném bom Iraq rồi cho lục quân vượt biên giới xâm lược nước này và lật đổ chế độ của Tổng thống Saddam Hussein. Cuộc chiến Iraq năm đó còn được gọi là Chiến tranh Vùng vịnh lần 2 (do Tổng thống Bush con phát động) để phân biệt với Chiến tranh Vùng Vịnh lần 1 diễn ra năm 1991 (dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Bush cha).

Nét nổi bật của cuộc chiến này là việc Mỹ đã rất thành công trong việc tạo cớ đưa quân vào Iraq. Khi ấy Mỹ một mực khẳng định rằng Iraq vẫn đang sở hữu và phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt (gồm vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học), đồng thời có liên hệ với tổ chức khủng bố al-Qaeda. Tất nhiên Mỹ và cả Liên Hợp Quốc đã không thể tìm thấy bằng chứng cho điều này ngay trước cuộc chiến. Dù không nhận được nghị quyết phê chuẩn của Liên Hợp Quốc (do thiếu chứng cứ) và bị thế giới phản đối, Tổng thống Mỹ George W. Bush vẫn phát động Chiến tranh xâm lược Iraq dựa trên các cáo buộc của mình.

Trong khi đó, Iraq đã gần suy kiệt sau thất bại trong Chiến tranh Vùng Vịnh lần 1 (bị tới 34 nước do Mỹ đứng đầu đánh cho “tơi tả”) và các lệnh trừng phạt của Liên Hợp Quốc sau đó. Thực tế, Iraq từng có chương trình chế bom hạt nhân nhưng chưa tạo ra được 1 quả bom nào và cũng đã từ bỏ chương trình này. Còn vũ khí sinh học và hóa học thì Iraq từng có (và đã từng sử dụng trong chiến tranh với Iran) nhưng sau năm 1991, Iraq đã ngừng phát triển các loại vũ khí này, đồng thời tiến hành tiêu hủy chúng. Ngoài ra, trước sức ép của Mỹ và đồng minh, Iraq còn phá hủy dần kho tên lửa của mình trong nỗ lực tránh nguy cơ nổ ra chiến tranh - một điều Iraq không hề mong muốn trong bối cảnh đất nước đang hết sức kiệt quệ và bị cấm vận.

Mặc dù Iraq đã tỏ ra hợp tác và đã phải rất “khổ sở” cố gắng chứng minh mình “chẳng hề có” vũ khí hủy diệt hàng loạt, Mỹ vẫn không “đoái hoài” và chiến tranh đã xảy đến. Điều trớ trêu là sau khi đã tiến quân vào Iraq và hạ bệ được ông Saddam Hussein, Mỹ và đồng minh của mình vẫn không tài nào tìm được vũ khí hủy diệt hàng loạt ở đây để biện minh cho cuộc chiến.

Đến năm 2008, khi sắp sửa kết thúc nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông Bush đã thú nhận trên kênh truyền hình ABC (được tờ Guardian dẫn lại) rằng quyết định tiến hành chiến tranh chống lại Saddam Hussein đã dựa trên tin tức tình báo sai và đây là điều hối tiếc lớn nhất trong đời làm tổng thống của ông. Dẫu vậy, ông vẫn bảo vệ quyết định để lại quân Mỹ ở Iraq (phải đến năm 2011 quân Mỹ mới rút hết khỏi quốc gia này). Sang năm 2009, đến lượt Thủ tướng Anh Tony Blair, đồng minh thân cận của Mỹ trong Chiến tranh Iraq, thừa nhận trên BBC rằng dù cho Iraq năm 2003 không có vũ khí hủy diệt hàng loạt thì ông vẫn ủng hộ cuộc chiến nhằm loại bỏ Saddam Hussein.

Vì những điều này mà nhiều người coi Chiến tranh Iraq 2003 thực chất là 1 cuộc chiến vì dầu mỏ, trong đó Mỹ-Anh muốn dựng lên 1 chính phủ thân họ và sẵn sàng cho các công ty Mỹ và Anh vào khai thác nguồn tài nguyên dầu khí phong phú của quốc gia Trung Đông này.

Để đánh Iraq, người ta lấy cớ vũ khí hủy diệt hàng loạt. Khi đánh xong rồi và không tìm thấy vũ khí hủy diệt hàng loạt (trừ 1 số ít không đáng kể bị vứt bỏ và sót lại từ trước năm 1991), cũng không có ai phải chịu trách nhiệm hay bị “xử lý” vì những thông tin sai và những hành động võ đoán cả. Chỉ có một thực tế: Chủ quyền 1 quốc gia bị xâm phạm một cách dễ dàng, Tổng thống nước này bị lật đổ và xử tử, còn người dân Iraq thì phải hứng chịu bao khổ đau do chiến tranh gây ra. Tất cả đều là sự đã rồi.

Tổng thống George W. Bush vào tháng 10/2002 ký khoản chi 355 tỷ USD cho quốc phòng. Lầu Năm Góc được nhận 40 tỷ USD trong số này trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc chiến với Iraq.

Ngày 5/2/2003, Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell phát biểu trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, cáo buộc Iraq tàng trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt, nhằm chuẩn bị “hành lang” cho cuộc xâm lược sắp xảy ra.

Ngày 20/3/2003, không hề tuyên chiến, Liên quân gồm Mỹ, Anh và một số nước bất ngờ tấn công Iraq. Chiến dịch “Tự do Iraq” bắt đầu bằng những loạt bom sấm sét để dọn đường cho lục quân tiến vào Iraq.

Do đã suy yếu từ trước nên dù cố gắng, quân đội của Tổng thống Saddam Hussein đã không thể trụ vững. Sử dụng vũ khí hiện đại và kế hoạch tác chiến chuẩn bị kỹ càng, lực lượng đa quốc gia do Mỹ đứng đầu đã nhanh chóng thọc sâu, tiêu diệt các mục tiêu quân sự và nhiều sinh lực đối phương. Liên quân có hiệu suất chiến đấu cao và tỷ lệ thương vong thấp hơn hẳn.

Trước những đòn trời giáng, quân đội Iraq nhanh chóng tan rã. Ngày 9/4, Baghdad thất thủ khi quân Mỹ chiếm được dinh Tổng thống Iraq và các bộ, rồi kiểm soát toàn thành phố, chấm dứt thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Saddam Hussein. Ông Saddam Hussein sau đó biến mất (đến cuối năm 2003 ông này mới bị bắt giữ khi đang lẩn trốn, và sang năm 2006 thì bị xét xử và treo cổ). Đầu tháng 5/2003, Tổng thống Bush phát biểu khẳng định nhiệm vụ đã hoàn thành.

Tuy nhiên cuộc chiến không kết thúc ngay lúc đó, kể cả sau này khi đã thành lập được Chính phủ chuyển tiếp vào năm 2005 và 1 chính phủ thường trực vào năm 2006. Sự sụp đổ của chính quyền Saddam Hussein đã kéo theo tình trạng bất ổn kéo dài ở đất nước này. Các nhóm từng bị chính quyền Saddam trấn áp nay trỗi dậy. Lực lượng của chế độ cũ phản công lại. Xung đột giáo phái và sắc tộc gia tăng. Các chiến binh chiến đấu quyết liệt chống lại lực lượng chiếm đóng, và các tổ chức khủng bố nhanh chóng nhập cuộc, biến nơi đây thành 1 ‘thiên đường’ khủng bố. Đất nước Iraq trong giai đoạn 2003-2011 được đặc trưng bởi các cuộc nổi dậy, các vụ ám sát, và đặc biệt là các vụ đánh bom liều chết với tần suất và mức độ tàn bạo chưa từng có tiền lệ, không hề “thua kém” ở Palestine, Afghanistan hay Pakistan. Trước 2003 không hề có tình trạng này.

Loạt ảnh dưới đây ghi lại những diễn biến chính của cuộc Chiến tranh Iraq bắt đầu từ năm 2003:

Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell giơ 1 chiếc lọ con mà ông nói có khả năng mang bệnh than, khi ông này trình bày với Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về bằng chứng cáo buộc Iraq tiến hành chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt (ảnh AP chụp ngày 5/2/2003)

Tổng thống Iraq Saddam Hussein (giữa) nói chuyện với sĩ quan lực lượng tinh nhuệ Vệ binh Cộng hòa ở Baghdad ngày 1/3/2003. Iraq đã bắt đầu phá hủy các tên lửa al-Samoud 2 của mình theo lệnh của Liên Hợp Quốc, và cũng đã đồng ý với các thanh sát viên vũ khí về lịch trình dỡ bỏ toàn bộ chương trình tên lửa của nước này (ảnh: INA)

Thủy quân lục chiến Mỹ thuộc Tiểu đoàn 2, chuẩn bị sẵn sàng sau khi nhận lệnh vượt biên giới Iraq từ phía bắc Kuwait vào ngày 20/3/2003 (ảnh: Getty Images)

Lính không quân Anh đợi trong boong-ke, mặc bộ đồ phòng chống vũ khí sinh học và hóa học sau khi có cảnh báo về 1 cuộc tấn công bằng tên lửa Scud vào căn cứ của họ ở Kuwait hôm 20/3/2003 (ảnh: Reuters)

Một đoàn xe tải quân sự và xe thiết giáp thuộc nhóm chiến đấu Lữ đoàn 3 Sư đoàn Không vận 101 chuẩn bị xâm nhập vào lãnh thổ Iraq hôm 21/3/2003 (ảnh: Lục quân Hoa Kỳ)

Binh lính Lữ đoàn 3 Sư đoàn Không vận 101 Mỹ nghỉ ngơi trong các hố cá nhận cạnh đoàn xe của mình tại 1 điểm tập kết trong sa mạc Kuwait ngày 21/3/2003 (ảnh: AP)

Một nhân viên phụ trách đạn dược quan sát các dãy bom trên Hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk ở bắc vịnh Persian vào ngày 30/3/2003. Phi cơ của tàu sân bay này thực hiện tổng cộng 104 phi vụ trên bầu trời Iraq vào ngày 29/3, và đã ném bom xuống các mục tiêu như các trận địa phòng không, một chuyến tàu hỏa chở xe tăng, và một trận địa tên lửa đất đối không (ảnh: Reuters)

Khói che phủ dinh Tổng thống Saddam Hussein trong vụ oanh tạc Baghdad ồ ạt do Mỹ chỉ huy vào ngày 21/3/2003. Lực lượng đa quốc gia đã không kích một cách mau lẹ và dữ dội, tạo nên các quả cầu lửa và những tiếng nổ inh tai cùng với các đám mây khói bên trên trung tâm thành phố. Tên lửa đã lao thẳng vào khu vực chính trong dinh Tổng thống bên bờ sông Tigris cũng như các tòa nhà khác của chính phủ (ảnh: Getty Images)

Một vụ nổ làm rung chuyển Baghdad trong đợt không kích ngày 21/3/2003. Các vụ tấn công vào ngày này vượt xa các vụ tấn công vào hôm trước (ảnh: Reuters)

Chiến xa Anh lướt qua các giếng dầu đang bốc cháy ở Nam Iraq vào ngày 20/3/2003 (ảnh: Reuters)

Thủy quân lục chiến Mỹ phóng tên lửa vác vai Javeline trong 1 trận đánh với quân Iraq tại khu vực cảng Umm Qasr ngày 23/3/2003 (ảnh: London Times)

Thủy quân lục chiến Mỹ(Sư đoàn 1) bắn trả sau khi bị tấn công bằng đạn cối ở nam Baghdad ngày 26/3/2003 (ảnh: AP)

Khói cuộn lên từ 1 tòa nhà trúng bom trong đợt không kích của lực lượng đa quốc gia ở Baghdad, ngày 31/3/2003 (ảnh: AP)

Bộ trưởng Thông tin Iraq Mohammed Saeed al-Sahaf lên truyền hình hôm 1/4/2003 để đọc thông điệp của Tổng thống Saddam Hussein gửi dân chúng Iraq, kêu gọi họ chiến đấu chống quân Mỹ-Anh hễ khi nào họ phát hiện ra đối phương (ảnh: Truyền hình Iraq)

Một bức tượng của Tổng thống Saddam Hussein, tại phủ tổng thống, bị hư hại do cuộc không kích do Mỹ chỉ huy ở Baghdad ngày 23/3/2003 (ảnh: Reuters)

Một chiến xa bọc thép của Anh húc đổ bức tường có tranh của Tổng thống Saddam Hussein ở thành phố Basra, miền Nam Iraq vào ngày 24/3/2003 (ảnh: Reuters)

Binh sĩ Iraq bị thủy quân lục chiến Mỹ bắt giữ sau trận đọ súng ở đại bản doanh các sư đoàn bộ binh cơ giới 51 và 32 của Iraq (ảnh AP chụp ngày 21/3/2003)

Dân thường Iraq kêu gào xin giúp đỡ khi họ bị kẹt giữa làn đạn đôi bên trong lúc một đại đội thủy quân lục chiến Mỹ tiến sâu về nam Iraq để chiếm cảng Umm Qasr vào ngày 21/3/2003 (ảnh: Reuters)

Trực thăng của Thủy quân lục chiến Mỹ tuần tiễu trên bầu trời Baghdad hôm 13/4/2003 (ảnh: Reuters)

Tổng thống George W. Bush giơ ngón tay cái vẻ chiến thắng trên tàu sân bay Abraham Lincoln ngoài khơi bang California (Mỹ) sau khi ông này tuyên bố kết thúc các trận chiến chính ở Iraq hôm 1/5/2003. Dòng chữ tiếng Anh ở phía trên: Sứ mệnh đã hoàn thành (ảnh: AP)

Tuy nhiên, cuộc chiến vẫn tiếp tục. Trong ảnh, khẩu đội 4 thuộc Pháo đội Mike thủy quân lục chiến giao chiến với đối phương trong trận Fallujah thứ 2 vào ngày 11/11/2004 (ảnh: Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ)

Một tòa nhà phát nổ sau khi máy bay Mỹ thả xuống 1 quả bom trong đợt tấn công các mục tiêu nổi dậy ở Najaf, Iraq ngày 19/8/2004 (ảnh: AP)

Xe tăng M1A1 Abrams thuộc Tiểu đoàn tăng số 2 nã pháo đáp trả vào 1 tòa nhà sau khi thủy quân lục chiến bị tấn công ở Fallujah, ngày 16/12/2004 (ảnh: Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ)

Một người dân Iraq cắm hoa vào nòng súng 1 người lính Iraq (thời hậu Saddam) chỉ ít phút trước khi xảy ra vụ tấn công liều chết nhằm vào lễ kỷ niệm Ngày Quân đội ở quận Karradah ở nội đô Baghdad hôm 6/1/2008 (ảnh: AP)

Khoảnh khắc những người lính Iraq (của chế độ mới) nằm chết hoặc bị thương ngay sau vụ tấn công liều chết nói trên hôm 6/1/2008. Hai người lính Iraq đã quăng mình lên trên kẻ đánh bom, nhưng vẫn không kịp – y đã cho nổ chiếc áo chứa chất nổ, giết chết 2 người lính này và 9 người khác. Người dân tặng hoa trong bức ảnh bên trên nằm trong số người tử vong (ảnh: AP)

Một chiếc xe hơi bị các tay súng tấn công, khiến ít nhất 4 người trên xe (gồm 3 người phương Tây) thiệt mạng. Vụ việc xảy ra ở thành phố Mosul, phía bắc Iraq hôm 17/12/2004 (ảnh: Reuters)

Công nhân Iraq dọn dẹp hiện trường 1 vụ đánh bom liều chết đẫm máu ở thành phố Hilla hôm 28/2/2005. Kẻ đánh bom cho nổ tung 1 chiếc xe con đậu gần các tân binh cảnh sát và 1 khu chợ đông đúc, làm 115 người thiệt mạng (ảnh: Reuters)

Một thành viên của tổ chức Code Pink (1 nhóm phụ nữ cánh tả Mỹ vì hòa bình) sơn đỏ bàn tay để phản đối Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice vào ngày 24/10/2007, khi bà Rice đến Quốc hội dự Điều trần của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện về chính sách của Mỹ ở Trung Đông (ảnh: AP)

Người dân Mỹ tuần hành từ công viên National Mall tới Lầu Năm Góc ở Washington ngày 17/3/2007 để phản đối chiến tranh Iraq (ảnh: AP)

Cô Kristin Kenney ngồi bên ngôi mộ bạn trai mình, trung sĩ lục quân Dennis Flanagan tại nghĩa trang quốc gia Arlington, Virginia, hôm 25/5/2006. Flanagan tử trận tại Iraq vào ngày 21/1/2006

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

hiến tranh Iraq - Bài học về tạo cớ gây chiến

) - Đây là một cuộc chiến điển hình về nghệ thuật ‘tạo cớ’ và khả năng ‘vượt mặt’ Liên Hợp Quốc để hành động.

Mười năm về trước, lực lượng đa quốc gia do Mỹ đứng đầu bất ngờ ném bom Iraq rồi cho lục quân vượt biên giới xâm lược nước này và lật đổ chế độ của Tổng thống Saddam Hussein. Cuộc chiến Iraq năm đó còn được gọi là Chiến tranh Vùng vịnh lần 2 (do Tổng thống Bush con phát động) để phân biệt với Chiến tranh Vùng Vịnh lần 1 diễn ra năm 1991 (dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Bush cha).

Nét nổi bật của cuộc chiến này là việc Mỹ đã rất thành công trong việc tạo cớ đưa quân vào Iraq. Khi ấy Mỹ một mực khẳng định rằng Iraq vẫn đang sở hữu và phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt (gồm vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học), đồng thời có liên hệ với tổ chức khủng bố al-Qaeda. Tất nhiên Mỹ và cả Liên Hợp Quốc đã không thể tìm thấy bằng chứng cho điều này ngay trước cuộc chiến. Dù không nhận được nghị quyết phê chuẩn của Liên Hợp Quốc (do thiếu chứng cứ) và bị thế giới phản đối, Tổng thống Mỹ George W. Bush vẫn phát động Chiến tranh xâm lược Iraq dựa trên các cáo buộc của mình.

Trong khi đó, Iraq đã gần suy kiệt sau thất bại trong Chiến tranh Vùng Vịnh lần 1 (bị tới 34 nước do Mỹ đứng đầu đánh cho “tơi tả”) và các lệnh trừng phạt của Liên Hợp Quốc sau đó. Thực tế, Iraq từng có chương trình chế bom hạt nhân nhưng chưa tạo ra được 1 quả bom nào và cũng đã từ bỏ chương trình này. Còn vũ khí sinh học và hóa học thì Iraq từng có (và đã từng sử dụng trong chiến tranh với Iran) nhưng sau năm 1991, Iraq đã ngừng phát triển các loại vũ khí này, đồng thời tiến hành tiêu hủy chúng. Ngoài ra, trước sức ép của Mỹ và đồng minh, Iraq còn phá hủy dần kho tên lửa của mình trong nỗ lực tránh nguy cơ nổ ra chiến tranh - một điều Iraq không hề mong muốn trong bối cảnh đất nước đang hết sức kiệt quệ và bị cấm vận.

Mặc dù Iraq đã tỏ ra hợp tác và đã phải rất “khổ sở” cố gắng chứng minh mình “chẳng hề có” vũ khí hủy diệt hàng loạt, Mỹ vẫn không “đoái hoài” và chiến tranh đã xảy đến. Điều trớ trêu là sau khi đã tiến quân vào Iraq và hạ bệ được ông Saddam Hussein, Mỹ và đồng minh của mình vẫn không tài nào tìm được vũ khí hủy diệt hàng loạt ở đây để biện minh cho cuộc chiến.

Đến năm 2008, khi sắp sửa kết thúc nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông Bush đã thú nhận trên kênh truyền hình ABC (được tờ Guardian dẫn lại) rằng quyết định tiến hành chiến tranh chống lại Saddam Hussein đã dựa trên tin tức tình báo sai và đây là điều hối tiếc lớn nhất trong đời làm tổng thống của ông. Dẫu vậy, ông vẫn bảo vệ quyết định để lại quân Mỹ ở Iraq (phải đến năm 2011 quân Mỹ mới rút hết khỏi quốc gia này). Sang năm 2009, đến lượt Thủ tướng Anh Tony Blair, đồng minh thân cận của Mỹ trong Chiến tranh Iraq, thừa nhận trên BBC rằng dù cho Iraq năm 2003 không có vũ khí hủy diệt hàng loạt thì ông vẫn ủng hộ cuộc chiến nhằm loại bỏ Saddam Hussein.

Vì những điều này mà nhiều người coi Chiến tranh Iraq 2003 thực chất là 1 cuộc chiến vì dầu mỏ, trong đó Mỹ-Anh muốn dựng lên 1 chính phủ thân họ và sẵn sàng cho các công ty Mỹ và Anh vào khai thác nguồn tài nguyên dầu khí phong phú của quốc gia Trung Đông này.

Để đánh Iraq, người ta lấy cớ vũ khí hủy diệt hàng loạt. Khi đánh xong rồi và không tìm thấy vũ khí hủy diệt hàng loạt (trừ 1 số ít không đáng kể bị vứt bỏ và sót lại từ trước năm 1991), cũng không có ai phải chịu trách nhiệm hay bị “xử lý” vì những thông tin sai và những hành động võ đoán cả. Chỉ có một thực tế: Chủ quyền 1 quốc gia bị xâm phạm một cách dễ dàng, Tổng thống nước này bị lật đổ và xử tử, còn người dân Iraq thì phải hứng chịu bao khổ đau do chiến tranh gây ra. Tất cả đều là sự đã rồi.

Tổng thống George W. Bush vào tháng 10/2002 ký khoản chi 355 tỷ USD cho quốc phòng. Lầu Năm Góc được nhận 40 tỷ USD trong số này trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc chiến với Iraq.

Ngày 5/2/2003, Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell phát biểu trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, cáo buộc Iraq tàng trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt, nhằm chuẩn bị “hành lang” cho cuộc xâm lược sắp xảy ra.

Ngày 20/3/2003, không hề tuyên chiến, Liên quân gồm Mỹ, Anh và một số nước bất ngờ tấn công Iraq. Chiến dịch “Tự do Iraq” bắt đầu bằng những loạt bom sấm sét để dọn đường cho lục quân tiến vào Iraq.

Do đã suy yếu từ trước nên dù cố gắng, quân đội của Tổng thống Saddam Hussein đã không thể trụ vững. Sử dụng vũ khí hiện đại và kế hoạch tác chiến chuẩn bị kỹ càng, lực lượng đa quốc gia do Mỹ đứng đầu đã nhanh chóng thọc sâu, tiêu diệt các mục tiêu quân sự và nhiều sinh lực đối phương. Liên quân có hiệu suất chiến đấu cao và tỷ lệ thương vong thấp hơn hẳn.

Trước những đòn trời giáng, quân đội Iraq nhanh chóng tan rã. Ngày 9/4, Baghdad thất thủ khi quân Mỹ chiếm được dinh Tổng thống Iraq và các bộ, rồi kiểm soát toàn thành phố, chấm dứt thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Saddam Hussein. Ông Saddam Hussein sau đó biến mất (đến cuối năm 2003 ông này mới bị bắt giữ khi đang lẩn trốn, và sang năm 2006 thì bị xét xử và treo cổ). Đầu tháng 5/2003, Tổng thống Bush phát biểu khẳng định nhiệm vụ đã hoàn thành.

Tuy nhiên cuộc chiến không kết thúc ngay lúc đó, kể cả sau này khi đã thành lập được Chính phủ chuyển tiếp vào năm 2005 và 1 chính phủ thường trực vào năm 2006. Sự sụp đổ của chính quyền Saddam Hussein đã kéo theo tình trạng bất ổn kéo dài ở đất nước này. Các nhóm từng bị chính quyền Saddam trấn áp nay trỗi dậy. Lực lượng của chế độ cũ phản công lại. Xung đột giáo phái và sắc tộc gia tăng. Các chiến binh chiến đấu quyết liệt chống lại lực lượng chiếm đóng, và các tổ chức khủng bố nhanh chóng nhập cuộc, biến nơi đây thành 1 ‘thiên đường’ khủng bố. Đất nước Iraq trong giai đoạn 2003-2011 được đặc trưng bởi các cuộc nổi dậy, các vụ ám sát, và đặc biệt là các vụ đánh bom liều chết với tần suất và mức độ tàn bạo chưa từng có tiền lệ, không hề “thua kém” ở Palestine, Afghanistan hay Pakistan. Trước 2003 không hề có tình trạng này.

Loạt ảnh dưới đây ghi lại những diễn biến chính của cuộc Chiến tranh Iraq bắt đầu từ năm 2003:

Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell giơ 1 chiếc lọ con mà ông nói có khả năng mang bệnh than, khi ông này trình bày với Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về bằng chứng cáo buộc Iraq tiến hành chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt (ảnh AP chụp ngày 5/2/2003)

Tổng thống Iraq Saddam Hussein (giữa) nói chuyện với sĩ quan lực lượng tinh nhuệ Vệ binh Cộng hòa ở Baghdad ngày 1/3/2003. Iraq đã bắt đầu phá hủy các tên lửa al-Samoud 2 của mình theo lệnh của Liên Hợp Quốc, và cũng đã đồng ý với các thanh sát viên vũ khí về lịch trình dỡ bỏ toàn bộ chương trình tên lửa của nước này (ảnh: INA)

Thủy quân lục chiến Mỹ thuộc Tiểu đoàn 2, chuẩn bị sẵn sàng sau khi nhận lệnh vượt biên giới Iraq từ phía bắc Kuwait vào ngày 20/3/2003 (ảnh: Getty Images)

Lính không quân Anh đợi trong boong-ke, mặc bộ đồ phòng chống vũ khí sinh học và hóa học sau khi có cảnh báo về 1 cuộc tấn công bằng tên lửa Scud vào căn cứ của họ ở Kuwait hôm 20/3/2003 (ảnh: Reuters)

Một đoàn xe tải quân sự và xe thiết giáp thuộc nhóm chiến đấu Lữ đoàn 3 Sư đoàn Không vận 101 chuẩn bị xâm nhập vào lãnh thổ Iraq hôm 21/3/2003 (ảnh: Lục quân Hoa Kỳ)

Binh lính Lữ đoàn 3 Sư đoàn Không vận 101 Mỹ nghỉ ngơi trong các hố cá nhận cạnh đoàn xe của mình tại 1 điểm tập kết trong sa mạc Kuwait ngày 21/3/2003 (ảnh: AP)

Một nhân viên phụ trách đạn dược quan sát các dãy bom trên Hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk ở bắc vịnh Persian vào ngày 30/3/2003. Phi cơ của tàu sân bay này thực hiện tổng cộng 104 phi vụ trên bầu trời Iraq vào ngày 29/3, và đã ném bom xuống các mục tiêu như các trận địa phòng không, một chuyến tàu hỏa chở xe tăng, và một trận địa tên lửa đất đối không (ảnh: Reuters)

Khói che phủ dinh Tổng thống Saddam Hussein trong vụ oanh tạc Baghdad ồ ạt do Mỹ chỉ huy vào ngày 21/3/2003. Lực lượng đa quốc gia đã không kích một cách mau lẹ và dữ dội, tạo nên các quả cầu lửa và những tiếng nổ inh tai cùng với các đám mây khói bên trên trung tâm thành phố. Tên lửa đã lao thẳng vào khu vực chính trong dinh Tổng thống bên bờ sông Tigris cũng như các tòa nhà khác của chính phủ (ảnh: Getty Images)

Một vụ nổ làm rung chuyển Baghdad trong đợt không kích ngày 21/3/2003. Các vụ tấn công vào ngày này vượt xa các vụ tấn công vào hôm trước (ảnh: Reuters)

Chiến xa Anh lướt qua các giếng dầu đang bốc cháy ở Nam Iraq vào ngày 20/3/2003 (ảnh: Reuters)

Thủy quân lục chiến Mỹ phóng tên lửa vác vai Javeline trong 1 trận đánh với quân Iraq tại khu vực cảng Umm Qasr ngày 23/3/2003 (ảnh: London Times)

Thủy quân lục chiến Mỹ(Sư đoàn 1) bắn trả sau khi bị tấn công bằng đạn cối ở nam Baghdad ngày 26/3/2003 (ảnh: AP)

Khói cuộn lên từ 1 tòa nhà trúng bom trong đợt không kích của lực lượng đa quốc gia ở Baghdad, ngày 31/3/2003 (ảnh: AP)

Bộ trưởng Thông tin Iraq Mohammed Saeed al-Sahaf lên truyền hình hôm 1/4/2003 để đọc thông điệp của Tổng thống Saddam Hussein gửi dân chúng Iraq, kêu gọi họ chiến đấu chống quân Mỹ-Anh hễ khi nào họ phát hiện ra đối phương (ảnh: Truyền hình Iraq)

Một bức tượng của Tổng thống Saddam Hussein, tại phủ tổng thống, bị hư hại do cuộc không kích do Mỹ chỉ huy ở Baghdad ngày 23/3/2003 (ảnh: Reuters)

Một chiến xa bọc thép của Anh húc đổ bức tường có tranh của Tổng thống Saddam Hussein ở thành phố Basra, miền Nam Iraq vào ngày 24/3/2003 (ảnh: Reuters)

Binh sĩ Iraq bị thủy quân lục chiến Mỹ bắt giữ sau trận đọ súng ở đại bản doanh các sư đoàn bộ binh cơ giới 51 và 32 của Iraq (ảnh AP chụp ngày 21/3/2003)

Dân thường Iraq kêu gào xin giúp đỡ khi họ bị kẹt giữa làn đạn đôi bên trong lúc một đại đội thủy quân lục chiến Mỹ tiến sâu về nam Iraq để chiếm cảng Umm Qasr vào ngày 21/3/2003 (ảnh: Reuters)

Trực thăng của Thủy quân lục chiến Mỹ tuần tiễu trên bầu trời Baghdad hôm 13/4/2003 (ảnh: Reuters)

Tổng thống George W. Bush giơ ngón tay cái vẻ chiến thắng trên tàu sân bay Abraham Lincoln ngoài khơi bang California (Mỹ) sau khi ông này tuyên bố kết thúc các trận chiến chính ở Iraq hôm 1/5/2003. Dòng chữ tiếng Anh ở phía trên: Sứ mệnh đã hoàn thành (ảnh: AP)

Tuy nhiên, cuộc chiến vẫn tiếp tục. Trong ảnh, khẩu đội 4 thuộc Pháo đội Mike thủy quân lục chiến giao chiến với đối phương trong trận Fallujah thứ 2 vào ngày 11/11/2004 (ảnh: Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ)

Một tòa nhà phát nổ sau khi máy bay Mỹ thả xuống 1 quả bom trong đợt tấn công các mục tiêu nổi dậy ở Najaf, Iraq ngày 19/8/2004 (ảnh: AP)

Xe tăng M1A1 Abrams thuộc Tiểu đoàn tăng số 2 nã pháo đáp trả vào 1 tòa nhà sau khi thủy quân lục chiến bị tấn công ở Fallujah, ngày 16/12/2004 (ảnh: Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ)

Một người dân Iraq cắm hoa vào nòng súng 1 người lính Iraq (thời hậu Saddam) chỉ ít phút trước khi xảy ra vụ tấn công liều chết nhằm vào lễ kỷ niệm Ngày Quân đội ở quận Karradah ở nội đô Baghdad hôm 6/1/2008 (ảnh: AP)

Khoảnh khắc những người lính Iraq (của chế độ mới) nằm chết hoặc bị thương ngay sau vụ tấn công liều chết nói trên hôm 6/1/2008. Hai người lính Iraq đã quăng mình lên trên kẻ đánh bom, nhưng vẫn không kịp – y đã cho nổ chiếc áo chứa chất nổ, giết chết 2 người lính này và 9 người khác. Người dân tặng hoa trong bức ảnh bên trên nằm trong số người tử vong (ảnh: AP)

Một chiếc xe hơi bị các tay súng tấn công, khiến ít nhất 4 người trên xe (gồm 3 người phương Tây) thiệt mạng. Vụ việc xảy ra ở thành phố Mosul, phía bắc Iraq hôm 17/12/2004 (ảnh: Reuters)

Công nhân Iraq dọn dẹp hiện trường 1 vụ đánh bom liều chết đẫm máu ở thành phố Hilla hôm 28/2/2005. Kẻ đánh bom cho nổ tung 1 chiếc xe con đậu gần các tân binh cảnh sát và 1 khu chợ đông đúc, làm 115 người thiệt mạng (ảnh: Reuters)

Một thành viên của tổ chức Code Pink (1 nhóm phụ nữ cánh tả Mỹ vì hòa bình) sơn đỏ bàn tay để phản đối Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice vào ngày 24/10/2007, khi bà Rice đến Quốc hội dự Điều trần của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện về chính sách của Mỹ ở Trung Đông (ảnh: AP)

Người dân Mỹ tuần hành từ công viên National Mall tới Lầu Năm Góc ở Washington ngày 17/3/2007 để phản đối chiến tranh Iraq (ảnh: AP)

Cô Kristin Kenney ngồi bên ngôi mộ bạn trai mình, trung sĩ lục quân Dennis Flanagan tại nghĩa trang quốc gia Arlington, Virginia, hôm 25/5/2006. Flanagan tử trận tại Iraq vào ngày 21/1/2006