Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

Nga tố Mỹ kích ngòi 2/3 cuộc xung đột trên thế giới

28/11/2014 12:00

Quay lên

Tin tức

0

Bình luận

Fanpage Thanh Niên

Tôi Viết

(TNO) “Trong những thập niên qua Mỹ đã kích ngòi 2/3 trong tổng số cuộc xung đột quân sự trên thế giới, như Yugoslavia, Iraq, Afghanistan và Syria”, đài Russia Today (Nga) dẫn lời Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga Anatoly Antonov.


Trên 40 tàu chiến và tàu ngầm đại diện 15 quốc gia tham gia cuộc tập trận Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC) 2014 do Mỹ đứng đầu - Ảnh: Reuters

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga nói như trên với các quan chức quốc phòng từ Nam Á và Đông Nam Á trong buổi làm việc tại thủ đô Colombo, Sri Lanka vào ngày 27.11.

“Lợi dụng tình hình kinh tế và xã hội khó khăn, những cuộc xung đột tôn giáo và sắc tộc để có cớ xúc tiến dân chủ, các quan chức Mỹ và phương Tây kích ngòi sự bất mãn của người dân ở các nước", ông Antonov nói.

“Hậu quả là một chính quyền hợp pháp bị lật đổ, hỗn loạn, lạm quyền, nhiều người chết và trong một số trường hợp chế độ thân phương Tây được lên nắm quyền đất nước”, ông Antonov nói thêm.

Mỹ mang bất ổn đến châu Á-Thái Bình Dương

Ngoài những tổ chức khủng bố nguy hiểm như al-Qaeda và Nhà nước Hồi giáo (IS), ông Antonov nói mối đe dọa toàn cầu đối với ổn định và an ninh thế giới hiện là xu hướng “cách mạng màu”.

Thứ trưởng Antonov điểm ra một số ví dụ cho “cách mạng màu” là vụ biểu tình ở Hồng Kông, những vụ biểu tình lật đổ chính quyền Ukraine trước đây, kết thúc với sự hỗn loạn, giết người hàng loạt, hủy hoại nền kinh tế, đất nước chia rẻ và nội chiến.

Ông Antonov còn đổ lỗi Mỹ đã "đẩy Ukraine xuống vực thẳm", kích ngòi xung đột ở nước này khiến hàng ngàn người chết. "Mỹ cũng đang mang bất ổn đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương, phát triển hiện thống phòng thủ tên lửa toàn cầu với cái cớ ngăn chặn mối đe dọa hạt nhân từ Triều Tiên", theo ông Antonov.


Binh sĩ Mỹ và Afghanistan kiểm tra hiện trường một vụ đánh bom ở thành phố Jalalabad, Afghanistan - Ảnh: Reuters

“Nhưng thực tế, hệ thống phòng thủ tên lửa toàn cầu của Mỹ là nhằm mục tiêu hủy hoại và tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương”, ông Antonov cho biết.

Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự ở châu Á - Thái Bình Dương với những tàu sân bay hạt nhân và máy bay ném bom chiến lược nhằm theo dõi, nắm vững chính sách các nước khác, ông Antonov nói, đồng thời lưu ý rằng chính phủ những quốc gia trong khu vực cũng chịu áp lực khi Washington buộc họ phải “tham gia những lệnh trừng phạt kinh tế bất hợp pháp chống lại Nga”.

Ông Antonov nhắc lại tuyên bố của Tổng thống Nga Vladimir Putin trước đây rằng Mỹ cứ nỗ lực can thiệp vào vấn đề nội bộ các nước khác đến đâu thì cũng kết thúc bằng một thảm họa. Tổng thống Putin từng nói ông có ấn tượng rằng “người Mỹ đụng tay đến đâu là họ đều có kết thúc như ở Libya hoặc Iraq”, theo ông Antonov.

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

NIGERIA ĐẨY LÙI EBOLA BẰNG NƯỚC

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xác nhận từ đầu tuần này (20.10.2014) rằng Nigeria đã hoàn toàn đẩy lùi đại dịch sốt xuất huyết do vi khuẩn Ebola và các bác sĩ tại đây cho biết họ đã hành động với một “mẹo” rất đơn giản (sinple trick): uống nước thật nhiều.

Là quốc gia đông dân nhất, lại nằm ở tâm vùng dịch Ebola ở Tây Phi, Nigeria là nơi mà WHO lo ngại nhất, dự đoán rằng nếu dịch bùng phát thì mức lây lan sẽ bùng phát với mức độ 10,000 người nhiễm bệnh mỗi tuần.

Dr Ada Igonoh

Nhưng cho đến nay quốc gia trên 160 triệu dân này chỉ có 20 người nhiễm bệnh, trong đó chỉ có 8 người thiệt mạng, một tỷ lệ rất thấp so với tỷ lệ tử vong lên đến 70 phần trăm tại các quốc gia láng giềng.

Đến đầu tuần này, sau 42 ngày không phát hiện trường hợp nhiễm mới, WHO đã đi đến kết luận nói trên. Theo Rui Gama Vaz, Giám đốc của WHO tại Nigeria thì những kinh nghiệm mà Nigeria có được trong việc kiểm soát virus Ebola lần này là bài học quý giá và ánh sáng hiếm hoi trong đại dịch lần này.

Trong khi đó thì những bác sĩ Nigeria chiến thắng cơn bệnh này cho biết thành công của họ là nhờ một mẹo rất đơn giản: hãy ráng uống thật nhiều nước, dù thực sự không muốn uống.

Nữ bác sĩ Ada Igonoh, một người đã nhiễm virus Ebola và chiến thắng cơn bệnh, cho biết việc này không dễ dàng: cô phải uống ít nhất 5 lít nước mỗi ngày, trong thời hạn liên tiếp 5 hay 6 ngày khi cổ và họng rát bỏng, toàn thân mệt nhừ, không muốn uống chút nào.

Cô trình bày với phóng viên hãng tin The Associated Press: “Trong tình thế đó bạn sẽ không muốn uống bất cứ thứ gì. Bạn rất yếu và trong khi cổ họng đau rát, bạn không thể nuốt, bạn phải cố đưa nước vào cơ thể dù muốn ói ra, vì bạn cần nó! Tôi phải lòng dặn lòng, nói với chính tôi “Tôi phải uống thứ nước này, bất kể mùi vị của nó thế nào”.

Theo Bác sĩ Simon Mardel, một trong những chuyên gia hàng đầu của thế giới về sốt xuất huyết cho biết con số tử vong cao là không biết điều trị. Theo ông thì khi bị sốt, các bệnh nhân cần uống nước nhiều để chống lại tình trạng mất nước do căn bệnh gây ra. Tình trạng tử vong cao là do những người nhiễm bệnh khi bị sốt đã dùng thuốc để hạ thân nhiệt và việc này càng gây hại cho họ. Nếu đừng sử dụng thuốc giảm nhiệt mà chỉ uống nước thôi, số tử vong sẽ có thể giảm đi một nửa!

Tuy nhiên bên cạnh đó là chính sách và cách tổ chức của chính phủ Nigeria để tìm kiếm và cách ly những người nhiễm bệnh, ngăn chặn nguy cơ lây lan.

Trường hợp nhiễm Ebola đầu tiên của Nigeria xuất hiện vào tháng Bảy khi ông Patrick Sawyer, một luật sư Mỹ làm việc tại nước này bị dịch ở Liberia, đã té xỉu khi về đến phi trường Lagos ở Nigeria với triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết Ebola. (Sawyer sau đó chết ngày 24.7.2014)

Lúc này không chỉ dư luận Nigeria mà thế giới bên ngoài đều lo sợ: dịch bùng phát tại nước có trên 160 triệu dân và là nền kinh tế lớn nhất châu Phi này sẽ bùng phát ra cả thế giới. Dân số Nigeria gấp 8 lần tổng dân số của Guinea, Sierra Leone và Liberia, nơi căn bệnh đang hoành hành. Sự lo sợ này là có cơ sở vì hệ thống y tế thiếu thốn Nigeria sẽ bị quá tải, không tài nào khống chế được con virus này trong một dân số như vậy. Trong khi đó quốc gia này đang bị rối ren với các vụ tham nhũng trong khi quân đội thì bị lúng túng trong cuộc chiến với phiến quân Hồi giáo ở miền Bắc Nigeria.

Bác sĩ Simon Mardel, chuyên gia quốc tế về những căn bệnh mới xuất hiện, diễn tả ảnh hưởng của một căn bệnh như vậy như là một loạt các vòng luẩn quẩn: bệnh sẽ tấn công cá nhân trước, rồi xã hội chung quanh cá nhân đó. Trên hai khía cạnh này Nigeria có vẻ đều sẽ bị ảnh hưởng nặng.

Tuy nhiên nhờ một nỗ lực hiếm có của chính quyền và các tổ chức tư nhân, Nigeria đã ngăn chặn cơn dịch.

Khi bệnh nhân Ebola đầu tiên bị phát hiện, tổng thống Nigeria đã ký một nghị định khẩn cấp cho phép các viên chức hữu trách lục soát các cú điện thoại di động và cho họ quyền của các cơ quan an ninh truy nã những người có nguy cơ nhiễm bệnh nếu cần thiết. Sau đó, chính quyền tiểu bang Lagos lắp đặt một hệ thống theo dõi khắt khe tất cả những trường hợp có thể bị nhiễm bệnh.

Bác sĩ Eilish Cleary, một chuyên gia về y tế công cộng được WHO thuê để theo dõi những người sống sót ở Nigeria giải thích: “Họ tổ chức rất hệ thống. Họ bỏ hết sức ra truy cho được các liên lạc. Ở Mỹ, bà vợ (của ông Duncan) đã phải chịu đựng năm ngày trong đống đồ đạc bị nhiễm virus. Ở đây họ tẩy trùng ngay tức khắc”.

Tổng cộng có 20 người Nigeria bị nhiễm bệnh, trong đó 8 người chết. Tuy nhiên các viên chức chính phủ và tình nguyện viên đã truy ra hơn 800 người đã có tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với trường hợp ông Sawyer. Những người này bao gồm cả hai nhà thờ ở thành phố Port Harcourt nơi mà ông ta thường đi lễ.

Thêm vào đó, nhiều bệnh xá tư và phòng mạch được huấn luyện trong việc nhận diện bệnh nhân bị Ebola, và cách ly người bị nghi nhiễm bệnh họ ra khỏi cộng đồng cho đến khi họ được đưa tới các khu cô lập. Một chiến dịch thông tin và giải đáp được chính phủ tổ chức trên các trang mang xã hội... Qua đó, Nigeria đã cho thấy sự quan trọng của việc thông tin công cộng với những cố gắng y tế để giới hạn căn bệnh lây lan.

Tuy nhiên giới bình luận cho rằng Nigeria đã may mắn là ông Sawyer đến đây qua đường hàng không, và đến ngay thủ đô thương mại của Nigeria và bước vào một trong những phòng khám tư hàng đầu ở Lagos. Họ sẽ có nhiều khó khăn hơn, nếu một trường hợp khác đến bằng đường bộ và rơi vào tay điều trị ở một bệnh viện công ở một tỉnh lẻ.

Tuy nhiên giới bình luận cũng thừa nhận rằng Nigeria đã dạy cho thế giới một bài học: muốn chống lại Ebola thì cần bình tĩnh, không nên hốt hoảng và đổ lỗi cho nhau vì việc này sẽ chỉ làm cho tình hình thêm trầm trọng. Bình tĩnh, phổ biến kiến thức, hợp tác với nhau để tìm cho ra và cô lập những người có tiềm năng truyền bệnh sẽ giúp chặn đứng căn bệnh.

Liên quan đến đại dịch Ebola, cũng từ đầu tuần này WHO cho biết virus Ebola đã biến thái thành trên ba trăm phiên bản và những đột biến như vậy khiến cho bệnh lây lan nhanh chóng, khó tìm thuốc chủng hơn.

Hiện nay, có 6 loại virus, mỗi loại trong số đó lại nhanh chóng phát triển thành các dạng nhỏ khác. Tại thời điểm này có bao nhiêu dạng virus đã được hình thành, không ai tính được chính xác. Các chuyên gia virus học cho hay ngoài loại virus đầu tiên, được phát hiện ở Zaire (nay là Congo) vào năm 1976, hiện có các kiểu gen khác nhau biến đổi từ nó. Đó là virus Ebola-Sudan.

Một loại khác được phát hiện ở Côte d'Ivoire. Có loại được tìm thấy ở Uganda. Sau nữa, virus Reston được phân lập tại Mỹ và Ý từ những con khỉ Philippines. Gần đây nhất là kiểu gen virus Ebola được phân lập từ dơi ở Tây Ban Nha. Thành ra, một nhóm virus không đồng nhất, khác hẳn với nguyên mẫu virus Ebola. Sự đa dạng đó cho thấy sự phát triển. Do đó, các đột biến nhất định diễn ra.

Điều đáng lo nhất là mỗi chủng virus lại đòi hỏi loại thuốc chủng riêng. Ví dụ, trong một thời gian dài có loại thuốc chủng chống virus Ebola-Zaire và Ebola-Sudan. Nhưng các thuốc chủng này chỉ thành công đối với những chủng do chúng tạo ra. Tức là thuốc Ebola -Zaire không hiệu quả trong tất cả các trường hợp sốt Ebola khác.

Cần phải có một loại thuốc chủng tổng hợp. Giờ đây các chuyên gia trên toàn thế giới đang làm việc để chế tạo loại thuốc chủng như vậy. Đã có những bước tiến triển, nhưng để sử dụng rộng rãi thì phải chờ khoảng sáu tháng hoặc một năm nữa.

Trong khi đó thì tính tới ngày 19.10.2014 thì đã có đã có tới 4,555 người thiệt mạng trong tổng số 9,216 người nhiễm bệnh.

Hiện WHO chia 7 nước đang bị ảnh hưởng bởi virus Ebola thành 2 nhóm:

Nhóm thứ nhất gồm có 3 nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất đó là Guinea, Liberia và Sierra Leone.

Nhóm 2 gồm Nigeria, Senegal, Tây Ban Nha và Mỹ là những nước có ít ca nhiễm mới nhưng khả năng cách ly cao, trong đó Nigeria đã được xóa tên.

Vấn đề khó khăn là các triệu chứng ban đầu của bệnh Ebola tương tự như bệnh cúm hoặc cảm lạnh – bệnh nhân cảm thấy người yếu, sốt, đau họng. Và chỉ một vài ngày sẽ bị nôn, tiêu chảy, phát ban, chảy máu nội tạng và bên ngoài. Khi xuất hiện những biểu hiện đó bệnh dễ dàng chẩn đoán và cách ly bệnh nhân, nhưng thời điểm này thường bị bỏ qua.

Theo WHO, nếu thế giới không thể đối phó với dịch bệnh Ebola thì mỗi tuần sẽ có khoảng 10,000 người bị lây nhiễm.

Reply, Reply All or Forward | More

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Mỹ "hốt" bạc tỷ tiền bán vũ khí từ cuộc chiến với ISIS

Hôm qua, chính phủ Mỹ trình lên quốc hội một kế hoạch bán thêm 600 triệu USD tiền đạn pháo xe tăng cho quân đội Iraq. Cộng thêm với hợp đồng cung cấp vũ khí trị giá 650 triệu USD hồi tháng Bảy, thì chỉ trong vòng nửa năm nước này có thể sẽ bán được 1,2 tỷ USD vũ khí cho cuộc khủng hoảng tại Iraq.

    1 / 9

    Chính phủ Mỹ vừa trình Quốc hội phê chuẩn kế hoạch bán 600 triệu USD tiền đạn pháo xe tăng cho Iraq. Đạn được bán sẽ là đạn dành cho xe tăng M1A1 Abrams, cũng do Mỹ sản xuất.

    Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

    Vì sao tổng thống Mỹ gọi một số tướng tá Việt Nam Cộng Hòa là “bọn ác ôn côn đồ”

    Vì sao tổng thống Mỹ gọi

    một số tướng tá Việt Nam

    Cộng Hòa là “bọn ác ôn

    côn đồ”

    > Chuyên mục ĐỪNG SỐC

    > Chuyên mục TÀI LIỆU HIẾM

    Trong cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28 tháng 2, 2003, Tổng Thống Johnson đã gọi các tướng miền Nam Việt Nam được Hoa Kỳ thuê đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” ("a goddam bunch of thugs"). Họ là ai và đã làm gì mà bị Tổng Thống Johnson miệt thị như vậy?

    Nhận diện “bọn ác ôn côn đồ”

    Tướng Trần Văn Đôn cho biết các sĩ quan cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) sau đây đã nằm trong nhóm đứng ra tổ chức đảo chánh: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu, Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tá Đỗ Mậu, Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Tá Nguyễn Văn Quan, Đại Tá Nguyễn Hữu Có, Đại Tá Trần Ngọc Huyến, Đại Tá Nguyễn Khương và Đại Tá Đỗ Cao Trí.

    Trong một cuộc phỏng vấn, Tướng Khánh có nói với chúng tôi rằng ông là người được CIA tiếp xúc trước tiên khi muốn làm đảo chánh. Nhưng theo tài liệu, CIA đã cho 2 điệp viên khác nhau đến gặp Tướng Khiêm và Tướng Khánh cùng một lúc. Điệp viên Lucien Emile Conein đến gặp Tướng Khiêm, một nhân viên CIA, lúc đó là Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và cho biết quyết định của Hoa Kỳ muốn lật đổ Tống Thống Ngô Đình Diệm. Tướng Khiêm đồng ý nhận thực hiện kế hoạch đó, nhưng gợi ý nên đi gặp Tướng Dương Văn Minh và Tướng Trần Văn Đôn. Trong khi đó, một điệp viên khác là Al Spera, cố vấn chính trị Bộ Tổng Tham Mưu, đi Pleiku gặp Tướng Nguyễn Khánh, một cộng tác viên khác của CIA, để thảo luận về việc này. Khi Al Spera hỏi Tướng Khánh về tướng Khiêm, Tướng Khánh đã nắm chặt hai bàn tay của mình lại và nói: “Chúng tôi như thế này.”

    Sau khi Tướng Khiêm và Lucien Conein phác xong họa kế hoạch hành động, ngày 2 tháng 10, 1963 khi Tướng Đôn lên phi trường đi Nha Trang thì Lucien Conein đến gặp và hẹn sẽ nói chuyện với nhau ở Nha Trang. Tối hôm đó, tại Nha Trang, Lucien Conein thuyết phục Tướng Đôn làm đảo chánh và Tướng Đôn đã đồng ý. Ngày 5 tháng 10, 1963, Lucien Conein lại đến bàn chuyện này với Tướng Dương Văn Minh. Tướng Minh cũng đồng ý. Tướng Đôn được giao cho phối trí lực lượng, còn Tướng Minh lãnh đạo Hội Đồng Cách Mạng. Tất cả nằm dưới sự chỉ đạo của Lucien Conein và Tướng Khiêm.

    1. Vai trò của Lucien Emile Conein:

    Chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào nói về điệp viên Al Spera, nhưng chúng tôi có khá nhiều tài liệu về điệp viên Lucien Emile Conein. Ông sinh năm 1919 tại Paris, mồ côi cha sớm, lúc mới 5 tuổi được mẹ gởi sang Hoa Kỳ sống với bà dì tại Kansas City thuộc tiểu bang Kansas, nhưng vẫn giữ quốc tịch Pháp. Ông đã từng làm điệp viên cho OSS (tiền thân của CIA) từ năm 1943 với cấp bậc Trung Úy, hoạt động chống Đức Quốc Xã trong Đệ Nhị Thế Chiến ở Âu Châu, rồi qua Bắc Việt khi chiến tranh chấm dứt. Từ 1954 đến 1956 ông đến Việt Nam hoạt động trong toán đặc nhiệm dưới quyền của Đại Tá Edward Lansdale, người đã giúp Tổng Thống Ngô Đình Diệm chống lại nhóm Bảy Viễn và Tướng Nguyễn Văn Hinh. Sau đó, ông trở về Mỹ và tham gia Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force), nhưng vẫn còn làm việc cho CIA.

    Năm 1961 ông đã xin về hưu, nhưng năm 1962 ông được CIA gọi làm việc trở lại và phong cho chức Trung Tá với bí danh là Lulu hay Black Luigi, rồi gởi qua Sài Gòn làm cố vấn cho Bộ Nội Vụ. Nhưng trong thực tế, Lucien Conein có nhiệm vụ móc nối với các tướng Việt Nam mà ông đã có dịp quen biết khi phục vụ dưới quyền của Đại Tá Lansdale, để chuẩn bị tổ chức đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

    Đại Sứ Henry Cabot Lodge gọi Lucien Conein là “the indispensable man” (con người rất cần thiết). Còn trong cuốn “Vietnam: A History,” sử gia Stanley Karnow nói rằng Lucien Conein là “một người lập dị, một người náo nhiệt, một nhân viên tình báo rất nhạy cảm và hoàn toàn chuyên nghiệp, thường không thể kiểm soát được.” Sau này, Everette E. Howard Hunt cũng đã dự tính dùng Lucien Conein trong vụ Watergate.

    Mỗi lần được phỏng vấn, Lucien Conein thường mở đầu câu chuyện bằng câu: “Bây giờ, đây là sự thật hai mặt, là thứ danh dự của hướng đạo sinh, là sự thật hai mặt” hay “Đừng tin bất cứ điều gì tôi nói. Tôi là một tên nói dối chuyên nghiệp.”

    Khi cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11, 1963 xảy ra, Lucien Conein đến Bộ Tổng Tham Mưu chỉ đạo trực tiếp. Ông ngồi trên ghế của Tướng Lê Văn Tỵ, đặt hai túi bạc dưới ghế, hai chân gác lên bàn, bên cạnh có khẩu 375 Magnum, chỉ huy các tướng Việt Nam thực hiện. Trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng, Tướng Trần Văn Đôn cho biết khi hay tin ông Diệm và ông Nhu đã ra khỏi Dinh Gia Long, Lucien Conein đã hỏi: “Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt lại cho kỳ được, vì rất quan trọng.” Lucien Conein đã nói với các tướng đảo chánh bằng tiến Pháp: “On ne fait pas d'omelette sans casser les oeufs.” (Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những cái trứng.) (trang 228)

    Khi bước xuống tuyền đài ngày 3 tháng 6, 1998 tại Virginia, Hoa Kỳ, Lucien Conei đã ôm theo khá nhiều bí mật của cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11, 1963.

    2. Tướng Trần Thiện Khiêm:

    Trong cuốn “Việt Nam nhân chứng,” Tướng Trần Văn Đôn nói rằng trong kế hoạch đảo chánh, ông rất dè dặt với Tướng Khiêm vì tướng này rất được ông Diệm và ông Nhu tin cậy. Vợ ông, bà Đinh Thị Yến, lại có chân trong ban chấp hành Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới Trung Ương của bà Nhu và là dân biểu Quốc Hội, thường đi sát với bà Nhu. Ông nhờ Tướng Minh thăm dò. Qua một người Mỹ “tận tụy và tìm hiểu giùm,” Tướng Minh cho biết Tướng Khiêm đồng ý tham gia đảo chánh.

    Khi viết như vậy, Tướng Đôn không biết gì nhiều về sự sắp xếp của CIA trong cuộc đảo chánh này. Ngay cả khi lệnh giết ông Diệm và ông Nhu được CIA truyền xuống, Tướng Đôn cũng không hề được cho biết. Một vài câu chuyện sau đây do một nhân chứng có mặt tại Bộ Tổng Tham Mưu trong suốt thời gian cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11, 1963 xảy ra, cũng đủ cho chúng ta thấy vài trò của Tướng Khiêm quan trọng như thế nào:

    - Khoảng 1 giờ 25 trưa ngày 1 tháng 11, 1963, Tướng Khiêm bước ra bước vào nơi ông làm việc. Đúng 1 giờ 30, tin đảo chánh được phổ biến, các tướng lãnh liên miên ra vào văn phòng Tướng Khiêm.

    - Sáng 2 tháng 11, 1963, có người đem bộ complet màu xám sậm đến đứng ở lầu ba chờ. Tùy phái của Tướng Khiêm ra hỏi thì được biết người này được gọi đem áo tới cho Tổng Thống Diệm. Khoảng 9 giờ, một đại tá bước vào phòng Tướng Khiêm. Hai phút sau, đại tá này bước ra và bảo người kia đem bộ đồ complet về, vì Tổng Thống đã chết! Trên lầu, nhiều tướng lãnh ra vào phòng Tướng Khiêm rất nhộn nhịp. Buổi tối, sau khi xác ông Diệm và ông Nhu được liệm xong, một báo cáo đã được trình lên cho Tướng Khiêm biết.

    - Khuya 3 tháng 11, 1963, khi mọi việc đã xong xuôi, Tướng Khiêm cho gọi Đại Tá Trần Văn Trung, Tham Mưu Phó Nhân Viên, và Đại Tá Đặng Văn Quang, Tham Mưu Phó Tiếp Vận, vào văn phòng ông và ra lệnh: “Hai ‘toi’ trực ở đây đêm nay, ‘moi’ về nghỉ.”

    - Một tuần lễ sau, Tướng Khiêm bước vào ban văn thư và hỏi Đại Úy Phạm Bá Hoa, chánh văn phòng của ông, “Có cho anh em mỗi người lên một cấp chưa? Nếu có gì xảy ra, ‘moi’ bay đầu thì các anh em cũng không được yên đâu.”

    Đọc thêm cuốn “Đôi dòng ghi nhớ” của Đại Tá Nguyễn Bá Hoa, độc giả sẽ thấy rõ hơn quyền hành của Tướng Khiêm trong cuộc đảo chánh này.

    Lệnh hành quyết

    Từ trước đến nay, chúng ta thường tranh luận về ai đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nay cuốn băng của Tổng Thống Johnson đã chính thức xác nhận rằng chính quyền Kennedy (Kennedy administration) đã ra lệnh giết, nên vấn đề này không cần phải tranh luận nữa.

    Lệnh hành quyết do Washington truyền cho Đại Sứ Lodge ở Sài Gòn. Ông này truyền cho Trần Thiện Khiêm và Dương Văn Minh qua Lucien Conein. Tướng Minh giao cho cận vệ của mình là Đại Úy Nguyễn Văn Nhung thi hành dưới sự chỉ đạo của Tướng Mai Hữu Xuân. Các sĩ quan khác, kể cả Tướng Đôn, đều không biết gì hết.

    Như đã nói ở trước, ngoài Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, Đại Sứ Henry Cabot Lodge đã quyết định giết thêm Ngô Đình Cẩn và Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh cho Nguyễn Văn Nhung đưa Đại Tá Lê Quang Tung ra nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế phía sau Bộ Tổng Tham Mưu đâm chết và vùi thây ở đó. Muốn giết ông Ngô Đình Cẩn, CIA phải lừa ông vào Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế, nói rằng sẽ cho đi ngoại quốc, sau đó dùng công điện báo cáo láo về Washington nói rằng trong nhà ông Cẩn có hầm chôn người và súng, dân chúng đang biểu tình, rồi giao ông Cẩn cho Tướng Khánh giết. Trong cuốn “Việt Nam nhân chứng,” Tướng Đôn xác nhận trong nhà ông Cẩn không hề có hầm chôn người hay súng.

    Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng sở dĩ Tổng Thống Johson đã gọi nhóm tướng lãnh được thuê làm đảo chánh là “một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” vì hai lý do: Lý do thứ nhất là cách thức giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu. Chưa một nhà lãnh đạo nào trên thế giới đã bị bọn tay chân bộ hạ thân tín, được hưởng nhiều ơn mưa móc, giết một cách thê thảm như thế trong một cuộc đảo chánh. Lý do thứ hai là sự tham nhũng và bất tài của nhóm này.

    Hành động “ác ôn côn đồ”

    Khoảng 10 giờ ngày 2 tháng 11, 1963, khi chiếc M113 chở xác ông Diệm và ông Nhu về đến Bộ Tổng Tham Mưu, đậu trên sân cỏ phía tay phải. Mở cửa xe phía sau ra, người ta thấy ông Diệm mặc bộ complet màu xám sậm, ông Nhu mặc bộ complet màu hơi nâu tím. Cả hai bị trói thúc ké tay sau lưng, nằm nghiêng trên sàn xe, máu me dầm dề. Một quân cảnh đứng gác tại đó cho biết, Tướng Dương Văn Minh đã xuống và tự tay vạch quần ông Diệm ra xem có “chim” không!

    Với các dấu vết trên hai xác chết như vậy, nhiều người đã đặt câu hỏi: Hai ông đã bị giết như thế nào? Cách tường thuật của mỗi người mỗi khác.

    Trong cuốn “Assassin in our Time” (“Kẻ sát nhân trong thời đại chúng ta”) xuất  bản năm 1976, ở trang 142, Sandy Lesberg đã mô tả như sau: Ông Diệm và ông Nhu ngồi với hai tay trói sau lưng. Trong khi ông Diệm giữ im lặng, bất thình lình viên thiếu tá dùng dao găm (bayonet) đâm ông Nhu 15 hay 20 lần. Sau đó, hắn ta rút súng lục bắn vào sau đầu ông Diệm. Thấy ông Nhu còn quằn quại trên sàn, viên thiếu tá ban cho ông ta một cú ân huệ bằng cách cũng bắn vào đầu ông ta.

    Sandy Lesberg không cho biết ông đã lấy tin này từ ai. Thật ra, lúc đó Nguyễn Văn Nhung còn là Đại Úy, sau này mới được thăng Thiếu Tá.

    Với cuốn “Les Guerres du Vietnam” (“Chiến tranh Việt Nam”) xuất bản năm 1985, Tướng Trần Văn Đôn không hề mô tả gì đến cách giết ông Diệm và ông Nhu, mà chỉ mô tả về sự tàn ác của sát thủ Nguyễn Văn Nhung mà thôi.

    Bà Ellen J. Hammer, tác giả của cuốn “A Death in November” (“Cái chết vào Tháng Mười Một”), nói rằng khi chiếc xe chở ông Diệm và ông Nhu dừng lại ở cổng xe lửa đường Hồng Thập Tự, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa từ trên miệng cửa xe lia một tràng tiểu liên vào hai ông Diệm và Nhu. Đại Úy Nhung rút súng Colt ra bồi thêm mấy phát vào đầu. Nhưng thấy chưa thỏa lòng, Nhung rút dao găm đâm tới tấp vào ngực hai anh em ông Diệm.

    Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa phủ nhận lời tường thuật này, ông nói rằng ông không ngồi trên xe chở ông Diệm và ông Nhu lúc đó. Nếu chính ông đã giết ông Diệm và ông Nhu, người ta cũng đã giết ông như giết Nguyễn Văn Nhung rồi.

    Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa là một đảng viên đảng Đại Việt, thuộc vào loại căm thù nhà Ngô, sau này đã được Tướng Nguyễn Khánh cho ngồi ghế phụ thẩm quân nhân của Tòa Án Các Mạng, xét xứ và tuyên án tử hình ông Ngô Đình Cẩn theo lệnh của Henry Cabot Lodge, mặc dù không có bằng chứng xác thực. Do đó, nhiều người vẫn tin vào lời tường thuật của bà Sandy Lesberg.

    Có lẽ Tướng Nguyễn Chánh Thi là người biết rõ Đại Úy Nguyễn Văn Nhung đã giết ông Diệm và ông Nhu như thế nào, vì sau cuộc “chỉnh lý” ngày 30 tháng 1, 1964, trước khi ra lệnh giết Đại Úy Nhung để phi tang một nhân chứng quan trọng (có lẽ theo lệnh của CIA), ông đã đích thân lấy lời khai của Nhung và còn bắt Nhung ngồi viết lời khai về vụ này. Ông có cho tôi nhìn qua tờ khai này năm 1968 khi đang ở Washington D.C. Nhưng rất tiếc, khi xuất bản cuốn “Việt Nam: Một trời tâm sự” ông đã không cho in nguyên văn tờ khai này, mà tự ý sửa đổi và cắt bớt đi. Tướng Mai Hữu Xuân được đổi thành Tướng Thu, mặc dầu trong Quân Lực VNCH lúc đó không có tướng nào tên là Tướng Thu cả. Theo tờ khai mà Tương Thi công bố trong cuốn sách nói trên, Đại Úy Nhung đã khai như sau:

    Khi xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu chạy được chừng 500 thước, Thiếu Tướng Thu (tức Mai Hữu Xuân) chạy xe ngược chiều trở lại và đưa lên một ngón tay trỏ. Đang còn ú ớ chưa biết giết ai, ông Diệm hay ông Nhu, họ định chạy qua để hỏi lại cho rõ thì dân chúng ùa ra xem rất đông, không chạy qua được. Bỗng Thiếu Tướng Thu đưa hai ngón tay, họ hiểu rằng ông ra lệnh bắn cả hai người. Thiếu tá Nhung liền rút súng Colt 12 bắn mỗi người 5 phát, và sau đó bắn ông Nhu thêm ba phát vào ngực nữa.

    Tướng Lê Minh Đảo, lúc đó là Đại Úy tùy viên của Tướng Lê Văn Kim, đã cho biết như sau: Sau khi ông Diệm và ông Nhu bị hạ sát ít lâu, Nguyễn Văn Nhung có kể lại chuyện này cho ông nghe. Nhung nói rằng khi được lệnh giết cả hai ông, Nhung đã bắn ông Nhu trước. Ông Diệm thấy thế đã nhắm mắt lại. Nhung liền bắn ông Diệm 5 phát. Sau đó quay qua bắn ông Nhu thêm 3 phát nữa. Điều này phù hợp với lời khai mà Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công bố.

    Tuy nhiên, sự thật không phải chỉ có thế. Xác ông Diệm và ông Nhu đã được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng Tham Mưu để khám nghiệm. Bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn (hiện nay ở New York), giám đốc bệnh xá này lúc đó, đã khám nghiệm và chứng nhận rằng cả ông Diệm lẫn ông Nhu đã bị bắn từ sau ót ra trước. Xác ông Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Xác ông Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu. Vậy ông Diệm và ông Nhu đã bị trói, đánh đập và đâm lúc nào?

    Một nhân chứng rất quan trọng hiện đang ở Melbourne, Úc Châu, cho biết ông là người đi trên chiết M113 chở ông Diệm và ông Nhu từ nhà thờ cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, nên đã chứng kiến những sự việc xảy ra. Câu chuyện ông kể lại có vẻ hợp lý hơn cả.

    ***

    Theo nhân chứng này, vào trưa 1 tháng 11, 1963, chi đoàn thiết giáp của ông được lệnh vào Sài Gòn để tăng cường bảo vệ thủ đô. Khi đến Sài Gòn, chi đội này được chia làm hai toán, một toán hợp lực với quân bạn bao vây Dinh Gia Long, một toán làm vòng đai an ninh cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nhân chứng ở trong toán đóng tại Bộ Tổng Tham Mưu.

    Sáng 2 tháng 11, 1963, khoảng 6 giờ 15 phút, toán ông được lệnh di chuyển ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vừa ra khỏi cổng chính thì thấy có 3 chiếc xe Jeep đang chờ. Chiếc thứ nhất có Tướng Mai Hữu Xuân và 3 cận vệ. Chiếc thứ hai chở Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nguyễn Văn Nhung và Đại Úy Dương Hiếu Nghĩa. Chiếc thứ ba chở 4 người, trong đó có Đại Úy Phan Hòa Hiệp. Sau đó là hai chiếc M113. Nhân chứng ngồi ở chiếc thứ nhì. Cuối cùng là 2 chiếc GMC chở đầy lính có vũ trang đầy đủ.

    Khi đến Chợ Lớn, gần một nhà thờ, xe chạy chậm lại, các binh sĩ trên hai chiếc GMC được lệnh nhảy xuống, một số bố trí xung quanh nhà thờ, số còn lại bố trí ở vòng ngoài. Xe Tướng Xuân chạy một vòng rồi đậu lại bên kia đường.

    Sau cái phất tay của Đại Tá Dương Ngọc Lắm, ba đại úy Nhung, Nghĩa và Hiệp nhảy xuống xe. Đại Tá Lắm ngoắc chiếc M113 có nhân chứng ngồi trên đó đi theo. Nhân chứng cũng nhảy xuống xe. Khi cách Đại Tá Lắm khoảng 2 thước, nhân chứng thấy có 4 người từ trong nhà thờ đi ra. Người đi đầu là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người đi tiếp theo là ông Ngô Đình Nhu. Sau cùng là hai tùy viên (Đại Úy Đỗ Thọ và ông Nguyễn Đắc Khá). Đại Tá Lắm đến chào ông Diệm:

    - Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông cố vấn.

    Ông Diệm:

    - Ông Đôn và ông Minh đâu hè?

    Đại Tá Lắm:

    - Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.

    - Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.

    Đại Tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:

    - Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.

    Ông Nhu khẽ nhíu mày lên tiếng:

    - Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem.

    Đại Tá Lắm khẽ nhún vai:

    - Tôi không biết. Đây là lệnh của Trung Tướng Chủ Tịch.

    Đại Úy Nhung liền oang oang:

    - Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.

    Mặt ông Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:

    - Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh, ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng được, nhưng còn Tổng Thống...

    Đại Úy Nhung:

    - Ở đây không còn Tổng Thống nào cả.

    Ngay lập tức, Nhung bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và hạ cửa xe xuống...

    Xe đi hết đường Nguyễn Trãi, vào đường Võ Tánh đến trước Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thì ngừng lại. Tổng Nha này đã bị chiếm từ ngày hôm trước nên không còn một cảnh sát nào lui tới. Chung quanh, các binh sĩ thuộc Sư Đoàn 5 của Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu canh gác rất cẩn mật.

    Một Đại Tá từ trên xe Jeep nhảy xuống, bảo các binh sĩ trên xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu xuống xe hết. Bảy người trên xe nhảy xuống, nhưng tài xế và anh hạ sĩ xạ thủ được ra lệnh ở lại. Xe được lệnh đi vào Tổng Nha.

    Khoảng 20 phút sau, chiếc M113 lại từ Tổng Nha chạy ra. Các binh sĩ lúc nãy được lệnh leo lên xe lại. Xe chạy ngược đường Võ Tánh trở lại đường Cộng Hòa. Nhân chứng hỏi hạ sĩ xạ thủ:

    - Ông Diệm và ông Nhu đâu?

    - Ở dưới.

    - Sao rồi?

    - Ông Nhu bị tra tấn khủng khiếp rồi bị xiết cổ chết bằng dây điện. Người ta hỏi ông ta nhiều lần: Vàng, bạc, tiền của cất đâu? Ai giữ? Cơ sở kinh tài gồm những cơ sở nào? Ông Nhu trả lời không biết.

    - Còn ông Diệm?

    - Ông Diệm bị đè cổ ra trói thúc ké rồi ném vào hầm xe.

    - Chết hay sống?

    - Không biết.

    Xe qua khỏi trường Petrus Ký rồi quẹo phải vào đường Hồng Thập Tự thì gặp lại 2 xe Jeep và hai xe chở binh sĩ lúc xuất hành buổi sáng. Xe Đại Tá Dương Ngọc Lắm đi đầu, xe thứ hai có Đại Úy Nhung. Khi đến đường Cao Thắng, bên hông bệnh viện Từ Dũ, xe ngừng lại vì bên kia đang có xe của Tướng Xuân chạy ngược trở lại. Dân chúng ra xem rất đông. Tướng Xuân nhìn Đại Úy Nhung và đưa hai ngón tay trái lên hai lần. Sau đó, ông đưa ngón tay trỏ lên khỏi đầu và co vào duỗi ra đến 4 lần (gióng như bóp cò). Đại Úy Nhung gật đầu rồi đưa tay lên chào.

    Khi xe đến gần đường rầy xe lửa thì dừng lại trước cổng xe đã được đóng lại vì đang có đoàn xe lửa đi qua. Đại Úy Nhung từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiến M113 có chở ông Diệm và ông Nhu và la lớn: “Xuống! Xuống!” Các binh sĩ trên xe M113 nhảy xuống hết. Nhân chứng vừa nhảy xuống đất thì nghe nhiều tiếng súng nổ...

    ***

    Những lời tiết lộ của nhân chứng vừa nêu cho chúng ta thêm những yếu tố mới, nhất là đoạn 2 ông bị đưa vào Tổng Nha Cảnh Sát để tra tấn và khảo của. Trò khảo của này là một “sở trường” của Tướng Mai Hữu Xuân. Sự tiết lộ này đã giúp giải thích tại sao hai ông bị trói tay ra phía sau lưng, trên mặt ông Diệm có nhiều vết bầm và trên người ông Nhu có nhiều lát dao đâm. Nguyễn Văn Nhung chỉ leo lên xe M113 trong một thời gian ngắn, không thể gây ra tất cả những thứ đó được.

    Sau khi thi hành xong lệnh của chủ và lãnh tiền công, “bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” cấu xé nhau về chức quyền và tiền bạc, đưa tới mất mất chủ quyền quốc gia, rồi đến mất nước.

    Bây giờ ở nơi các địa tầng “naraca,” Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Ngọc Lắm, Nguyễn Văn Quan, Nguyễn Văn Nhung... đang cùng với hai “ông thầy” Henry Cabot Lodge, Lucien Emile Conein nghiền ngẫm về lời nguyền rủa của Tổng Thống Johnson.

    Nghe nói trong những năm cuối cùng, Mai Hữu Xuân đã phát điên, thỉnh thoảng quỳ quay vào tường, chắp tay van lạy, “Xin cụ tha cho con!”

    Nơi chốn luân hồi, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang... không dám bước ra nhìn ánh sáng, Tôn Thất Đính thất thểu như một bóng ma...

    Lữ Giang

    Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

    Nhà báo Nhật Bản: Mỹ và Ukraina cố tình che dấu dữ liệu vụ rơi máy bay "Boeing" của Malaysia Đọc tiếp: http://vietnamese.ruvr.ru/2014_09_02/276747401/

    Nhà báo Nhật Bản: Mỹ và Ukraina cố tình che dấu dữ liệu vụ rơi máy bay "Boeing" của Malaysia

    © Photo: REUTERS/Maxim Zmeyev

    Chủ đề vụ máy bay "Boeing" của hàng không Malaysia bị rơi một cách bí ẩn ở Ukraina gần như đã biến mất khỏi các phương tiện truyền thông phương Tây.

    Nhà báo nổi tiếng Nhật Bản Kazuo Kobayashi cho rằng Hoa Kỳ và Ukraina không quan tâm đến việc tiết lộ thông tin mà họ đang có về vụ việc việc này, bởi họ sợ rằng điều đó sẽ làm suy yếu cơ sở để buộc tội và thi hành các biện pháp trừng phạt chống Nga.

    Lực lượng dân quân Đông Nam Ukraina nắm quyền kiểm soát một phần quan trọng khu vực máy bay "Boeing" Malaysia bị rơi khiến 298 người thiệt mạng. Tuy nhiên, quân đội Ukraina tiếp tục cho pháo binh bắn phá hiện trường máy bay rơi, như thể cố gắng phá hủy bằng chứng để cản trở cuộc điều tra khách quan sẽ cung cấp lời đáp cho câu hỏi: Ai là những người phải chịu trách nhiệm về vụ máy bay Malaysia bị rơi tại đây. Có vẻ như Kiev, Washington, Brussels và các phương tiện truyền thông phương Tây đều không cần đến lời đáp cho câu hỏi này, dù mới đây họ cùng đồng thanh buộc tội Moskva ủng hộ "phe ly khai thân Nga" trong vụ rơi máy bay.

    Nhà báo nổi tiếng của Nhật Bản Kazuo Kobayashi đưa ra phương án của mình để giải thích các hành vi như vậy của những kẻ lớn tiếng chỉ trích Nga ở phương Tây. Đây là những gì ông nói khi trả lời phỏng vấn MIA "Nước Nga ngày nay”: “Trong trường hợp này, điều kỳ lạ nhất có lẽ là chính phủ Mỹ cũng như Ukraina không hề cung cấp bất kỳ bằng chứng nào. Đặc biệt là những bằng chứng có thể trả lời các câu hỏi mà Nga đặt ra. Điều này thật kỳ lạ. Nếu thực tế đúng như Hoa Kỳ tuyên bố rằng máy bay bị bắn hạ bởi tên lửa "Buck" của Nga, hay bị các lực lượng dân quân bắn trúng với sự hỗ trợ của Nga, sẽ tốt đẹp hơn nếu Washington và Kiev cung cấp được bằng chứng về các dự đoán như vậy. Theo ý kiến ​​của tôi, vấn đề là ở chỗ ​​ chính phủ Ukraina có đầy đủ các dữ liệu về sự cố máy bay Boeing, nhưng họ không muốn tiết lộ thông tin này. Tất nhiên, đây chỉ là quan điểm cá nhân của tôi, có lẽ Ukraina không thể tiết lộ thông tin này bởi vì trong trường hợp đó những nỗ lực quy trách nhiệm vụ rơi máy bay "Boeing" cho Nga sẽ thất bại. Chắc là Ukraina phải chịu trách nhiệm về sự cố máy bay? Tất nhiên, tôi không có bằng chứng chống lại Ukraina, nhưng tôi thấy rằng toàn bộ mọi điều này là rất khó hiểu.”

    Tại sao tất cả những quốc gia đã lập tức tích cực cáo buộc Nga ngay sau khi vụ việc xảy ra, bây giờ lại im lặng? Ông Kazuo Kobayashi nói:

    “Chỉ vì họ không đưa ra được bất cứ bằng chứng nào chống lại Nga. Nếu như họ đã có bằng chứng, họ đã có thể công bố các dữ liệu về "Boeing" và máy bay "Su", được nhìn thấy bám gần sát máy bay Malaysia.”

    Kazuo Kobayashi không phải là nhà báo phương Tây duy nhất nghi ngờ phương án Nga có lỗi về vụ máy bay "Boeing" Malaysia bị rơi. Và càng ngày càng có nhiều người hoài nghi về chuyện này.
    Đọc tiếp: http://vietnamese.ruvr.ru/2014_09_02/276747401/

    Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

    Snowden 'buộc' các ông trùm tình báo Anh lộ diện

    Các chỉ huy tình báo Anh đã cùng xuất hiện trước công chúng lần đầu tiên để chỉ trích cựu điệp viên Mỹ Edward Snowden, nói rằng việc anh này tung ra tài liệu mật về các chiến dịch tình báo đang làm Al Qaeda vui mừng.

    Trong một phiên điều trần chưa từng có tiền lệ trước Quốc hội, lãnh đạo 3 cơ quan tình báo lớn của Anh cho biết tiết lộ của Snowden khiến họ suy nghĩ về chuyện sẽ công khai hơn về những việc họ đang làm, Reuters đưa tin hôm 7.11.


    Lần xuất hiện công khai cùng nhau lần đầu tiên của lãnh đạo 3 cơ quan tình báo chính tại Anh: (từ trái sang phải) Giám đốc MI5 Andrew Parker, Giám đốc MI6 John Sawers và Giám đốc GCHQ Iain Lobban. Báo chí Anh ví sự kiện vô tiền khoáng hậu này giống như cảnh trong phim tình báo James Bond - Ảnh: Reuters

    Tuy nhiên, các quan chức tình báo này cũng nói rằng phần lớn công việc của họ vẫn phải được đặt trong vòng bí mật vì lý do an ninh quốc gia.

    Ngoài ra, lãnh đạo 3 cơ quan này cũng thừa nhận những thông tin mật bị rò rỉ, phanh phui việc tình báo Anh hợp tác chặt chẽ với Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA), đã gây thiệt hại nặng nề cho các cơ quan này.

    “Điều này gây nguy hiểm cho các hoạt động của chúng tôi”, Reuters dẫn lời ông John Sawers, người đứng đầu MI6, cơ quan tình báo nước ngoài của Anh, phát biểu trong phiên điều trần.

    “Rõ ràng là kẻ thù của chúng ta đang xoa tay khoan khoái. Al Qaeda chắc đang rất vui sướng”, ông Sawers nói thêm.

    Giới quan sát nhận định phát biểu của ông Sawers cho thấy rõ sự giận dữ của các chỉ huy tình báo đối với Snowden.

    Được biết, các tổ chức nhân quyền, một số báo đài và nghị sĩ thuộc tất cả các đảng phái chính trị tại Anh đã tranh luận rằng tiết lộ của cựu nhân viên tình báo Mỹ về quy mô do thám của chính phủ cho thấy cần phải đặt các cơ quan tình báo dưới sự kiểm soát gắt gao hơn.

    Ông Iain Lobban, Giám đốc GCHQ, cơ quan tình báo điện tử Anh, phát biểu tại phiên điều trần rằng các lãnh đạo tình báo đang “sôi nổi” cân nhắc xem liệu có nên chia sẻ thêm nhiều thông tin về công việc tình báo với công chúng hay không.

    Nhưng ông cũng lập luận rằng một số phần vẫn phải được bảo mật, viện dẫn những ví dụ cho thấy tiết lộ của Snowden gây hại cho an ninh quốc gia.

    “Chúng tôi thực sự đã đọc được những đoạn trò truyện trực tuyến của các nhóm khủng bố, tranh luận về cách tránh dùng các phương pháp liên lạc mà giờ chúng đã thấy là dễ bị phát hiện và về cách lựa chọn các phương pháp mà giờ chúng nhận ra rằng khó bị phát giác”, ông Lobban cho hay.

    Giám đốc GCHQ cũng nói thêm rằng cơ quan này không nghe lén điện thoại hay đọc lén email của phần lớn người dân Anh vì đây là phạm pháp, đồng thời khẳng định chỉ làm vậy với những trường hợp cá biệt.

    Xuất hiện trong phiên điều trần lần này còn có sự tham dự của ông Andrew Parker, Giám đốc cơ quan tình báo nội địa MI5.

    Trong quá khứ, những phiên điều trần kiểu này luôn là họp kín và mãi đến năm 1992 danh tính của giám đốc MI6 được công bố công khai. Cơ quan này được thành lập hồi năm 1909.