Cuộc đời của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh
(Tác giả: Phan Lạc Tiếp)
Tôi xin gửi tới những ai yếu mến và tiếc thương Phó Đề Đốc Hoàng CơMinh một bài viết phong phú và đôn hậu về cuộc đời của ông.
30 năm trước đây, cảm khái trước cuộc lên đường hào hùng của Hoàng CơMinh, thi sĩ Giang Hữu Tuyên đã sáng tác tặng ông bài thơ “Bông BưởiChiều Xưa”, nhạc sĩ Châu Đình An đã phổ nhạc bài thơ này và diễn tả
bằng giọng hát mượt mà những giòng thơ nhạc nên thơ và hùng tráng đó…
http://amnhac.fm/index.php/nhac/C/134-chau-dinh-an/655-bong-buoi-chieu-xua/7782-bong-buoi-chieu-xuaPhó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh
1935 Sinh tại Hà Nội
1955 Tốt nghiệp Khóa 5 Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang
1955-1962 Ðảm nhận nhiều trách vụ trên chiến hạm và đơn vị bờ
1962-1964 Chỉ Huy Trưởng Phân Ðội IV. Trục Lôi Hạm
1964-1966 Tùy Viên Quân Sự tại Hán Thành/Nam Hàn
1966-1968 Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội 1
1969 Tốt nghiệp Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp / Ðà Lạt
1969-1971 Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị Bộ Tư Lệnh Hải Quân
1971-1974 Tư Lệnh Lực Lượng Thủy Bộ 211
1974 Vinh Thăng Phó Ðề Ðốc Hải Quân
1974-1975 Tư Lệnh Vùng II Duyên Hải, Kiêm Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Nhiệm 21
1975 Tị nạn tại Hoa Kỳ
1976-1978 Sáng lập Lực Lượng Quân Nhân Việt Nam Hải Ngoại
1979 Sáng lập Lực Lượng Quân Dân Việt Nam Hải Ngoại
1981 Rời Hoa Kỳ về khu chiến
1980-1987 Chủ Tịch MTQGTNGPVN
Ngày 28/08/1987 Hy sinh trên đường đấu tranh Giải Phóng Việt Nam
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh
Khi tôi ra trường đầu thập niên 60, tổng số sĩ quan trong Hải Quân
chưa đến 300 người. Quân số tất cả Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Đoàn Viên
của Hải Quân vào khoảng 4000 người mà thôi. Do đó hầu như chúng tôi
biết tên, biết tuổi và tính tình của tất cả những vị sĩ quan đàn anh.
Cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân sốcủa tất cả Hải Quân trên 40
ngàn, trong đó sĩ quan có đến mấy ngàn. Riêng cấp tướng có 10 vị đang
tại chức và 1 vị đã về hưu vì đáo hạn tuổi. Trong những sĩquan cấp
tướng này có thể chia ra làm 2 loại. Thứ nhất là những vị sĩ quan xuất
thân khoá 1 Nha Trang do Pháp huấn luyện trên Hạm Đội Viễn Đông
(Division Navale D Extreme Orient), với thâm niên quân vụ và chức vụ,
nên ưu tiên lên tướng trước với cấp bậc 2 sao, 3 sao. Thứ hai là
những vị tướng mới lên sau này, 1 sao, khi cuộc chiến ở giai đoạn cam
go và Hải Quân bành trướng mau lẹ, bao gồm những sĩ quan xuất thân
khoá 1 trường Sĩ Quan Hải Quân Brest, do Pháp huấn luyện; khóa 2, khoá
3, khoá 4 và khoá 5 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Ông Hoàng cơ Minh xuất
thân khoá 5, lên tướng, là người độc nhất trong khoá ông được vinh dự
này. Đa số những sĩ quan khoá 5 mang cấp bậcđại tá, có người còn đeo
trung tá. Như lời Đại Tá Nguyễn văn May cùng khoá với ông, nhận định
rằng: "Trừ lon Trung Uý là chúng tôi cùng lên chung, sau đó hầu như
cấp bậc nào ông Minh cũng lên trước anh em bởi những công trạng đặc
biệt. Ông Minh quả là người xuất sắc, hơn người".
Trong thời gian thụ huấn, là Sinh Viên Chuẩn Uý, chúng tôi nhìn những
Sĩ Quanđàn anh đã ra trường bằng một tấm lòng khao khát và ngưỡng mộ.
Nói chi đến vị Đại Uý Hạm Trưởng, ba vạch vàng trên vai và huy hiệu
Hạm Trưởng gắn trên nắp áo. Các vị ấy cao xa quá, tài giỏi quá. Xung
quanh các vị ấy là cả một vùng sương mù của huyền thoại. Ông này khó
tính, chì sóng. Ông kia cặp cầu xuôi sóng mà êm như để. Ông khác tuy
rất thâm niên nhưng không thích làm việc trên bờ,chỉ thích đi tàu...
Lúc ấy Đại Uý Hoàng cơ Minh đang là Hạm Trưởng trục lôi hạm Bạch Đằng
II, HQ 116. Chiến hạm tuy nhỏ nhưng mới tinh, trên ống khói có gắn một
huy hiệu vẽ một mỹ nhân ngư cầm cái chổi (để quét mìn). Bên trên huy
hiệu này là một chữ ƯU bằng đồng thau sáng loáng,
chứng tỏ trong kỳ thanh tra thường niên vừa qua, chiến hạm đã đạt được
điểm tốiđa trên mọi lãnh vực: thi hành tốt các công tác đã được chỉ
định; bảo trì toàn hảo tất cả các loại máy móc trên tàu; và tinh thần
phục vụ của nhân viên rất cao.
Khi bước chân xuống thực tập trên trục lôi hạm này, chúng tôi thấy
khác hẳn những chiến hạm khác. Vì hầu như nơi đâu trên tàu nếu không
được sơn phết sáng trưng, đều được đánh đồng bóng lộn. Không có những
chỗ hoen rỉ, vàng úa bọng sét. Vì chiến hạm này vỏ bằng gỗ, không rỉ
sét, nhưng dễ vỡ. Vận chuyển phải thật khéo léo, tránh va chạm như
loại tàu vỏ sắt. Kim loại dùng trên tàu này một phần là sắt, thép đã
được khử từ, mà đa số cơ phận làm bằng đồng thau. Lý do đồng thau
không bị hút bởi từ lực, tránh nguy hiểm cho chiến hạm đi gần loại mìn
từ tính. Ngay trên sân chính là một mặt trống khổng lồ để phá mìn âm
thanh. Bên cạnh đó là cả một cuộn giây cable đường kính có đến gần 10
phân, nằm chình ình trong trục quay.
Đối với chúng tôi, những sinh viên chưa ra trường, quang cảnh ấy là cả
những gì choáng ngợp, khó khăn. Tôi và mấy người bạn cùng khóa đứng
nghiêm túc trên đài chỉ huy, quan sát và ghi chép mọi diễn tiến tại
đây, chiêm ngưỡng vị Hạm Trưởng, Đại Uý Hoàng cơ Minh đứng điều khiển
con tàu.
Còi nhiệm sở vận chuyển kéo lên. Thuỷ thủ đoàn quần xanh đậm, áo xanh
xám nhạt, mặc áo phao màu đỏ, mau chóng chạy vào nhiệm sở. Lệnh Hạm
Trưởng ban ra sắc, gọn, được nhắc lại và thi hành rất chính xác. Khi
con tàu đã ở trên hải lộ,ngoan ngoãn hướng mũi ra cửa biển, Hạm Trưởng
đứng một lúc, hướng mắt ra khơi. Ông trở lại ghế dành riêng cho Hạm
Trưởng, thong thả châm một điếu Bastos, hít một hơi dài, thở khói mù
mịt, rồi ra lệnh: "Giải tán nhiệm sở vận chuyển." Gió thổi bay giây
hiệu kỳ chiến hạm lật phật. Một hồi còi dài ré lên. Nhưng tiếp theo
ngay là hồi còi nhiệm sở của phiên hải hành. Vị sĩ quan trưởng phiên
dơ tay chào Hạm Trưởng, biểu lộ sự sẵn sàng là sĩ quan đương phiên,
đứng ngay cạnh la bàn điện, ra lệnh cho phòng
lái. Đó là hình ảnh đầu tiên tôi có với niên trưởng Hoàng cơ Minh.
Sau này, khi đã ra trường, công tác và trách nhiệm đòi hỏi, đa số anh
em cùng khoá chúng tôi là những ngươi đi tàu tốt. Nhiều người đã là
Hạm Trưởng những chiến hạm lớn nhất của Hải Quân: khu trục hạm, tuần
dương hạm. Trong trận hải chiến lịch sử chống quân Trung Cộng tại
Hoàng Sa, ngày 19 tháng 1 năm 1974, hai trong bốn vị Hạm Trưởng tham
dự trận đánh là Sĩ Quan khoá 11. Tôi cũng từng là Hạm Trưởng, chỉ huy
một con tàu nhỏ, nhưng hình ảnh Hạm Trưởng Hoàng cơ Minh, vẫn là một
mẫu mực đẹp đẽ trong ký ức của tôi.
***
Từ năm 1965, cuộc chiến Việt Nam trở nên mãnh liệt, Quân Lực Mỹ ồ ạt
đổ vào Việt Nam . Bên cạnh đó, một số quốc giađồng minh của VNCH cũng
tham gia cuộc chiến, với nhiều sắc thái. Phi Luật Tân gửi Đoàn Y Tế
Dân Sự Vụ. Các quốc gia trong vùng gửi bộ binh tham chiến là ÚcĐại
Lợi, Thái Lan, Đại Hàn. Dân chúng Thủ Đô hẳn không quên tên 2 Sư Đoàn
Mãnh Hổ và Thanh Long và vòng đai bảo vệ Sài Gòn là Xa Lộ Đại Hàn, với
những sinh hoạt Dân Sự Vụ rất được báo chí nhắc đến của 2 Sư Đoàn kiểu
mẫu và thiện chiến này. Bên cạnh đó còn có các Dương Vận Hạm mang quốc
kỳ Đại Hàn hoạt động trên lãnh hải Việt Nam, thường đậu ở Bến Bạch
Đằng. Các chiến hạm này hiện diện tới những phút cuối cùng của cuộc
chiến. Nhiều người dân Thủ
Đô vào cuối tháng 4 năm 1975, đã rời khỏi nước trên những chiến hạm
này. Trong thời gian quân đội Đại Hàn tham chiến ở Việt Nam, HQ Thiếu
Tá Hoàng cơ Minh đảm nhiệm vai trò Tùy Viên Quân Lực của toà Đại Sứ
Việt Nam Cộng Hoà tại Đại Hàn.Đó là trách vụ của một sỹ quan cao cấp,
nhưng Thiếu Tá Hoàng cơ Minh đã hoàn tất công tác rất vẹn toàn. Những
ý kiến, những sắp xếp và những tài liệu hướng dẫn do ông soạn thảo để
tránh những hiểu lầm giữa hai dân tộc Việt Nam và Đại Hàn, chắc chắn
đã ảnh hưởng đến sinh hoạt của các Sư Đoàn và những chiến hạm nói
trên. Trong thời gian này tôi được biệt phái qua Nha Hoả Xa để lái tàu
dân sự. Ở đây trên 2 năm, nhìn bạn bè trong khoá lên lon vùn vụt, bỗng
động lòng trắc ẩn, tôi xin trở về
Hải Quân.
Lâu lắm mới mặc lại bộ quần áo nhà binh hồ thẳng nếp cứng quèo, đeo
lon cứ thấy ngượng như đeo lon giả. Vừa bước vào sân trại Bạch Đằng,
đụng ngay Trung Tá Hoàng cơ Minh ở hàng hiên cao ốc. Ông gọi lớn và
hỏi: "Cậu biến đi đâu mấy năm nay". Ông kéo tôi vào văn phòng ông: Văn
Phòng Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị ở góc từng trệt toà nhà
chính. Tôi trình bày hoàn cảnh của tôi. Ông bảo: "Thôi ở đây làm việc
với tôi." Chưa biết sẽ phụ trách công tác gì, nên tôi ngần ngại. Ông
bảo: "Để tôi dàn xếp, miễn là cậu thích làm việc với tôi. Coi như
xong, về nhà nghỉ thêm vài ngày nữa đi." Mấy ngày sau trở lại, ông
Minh nói: "Tôi thua. Đại Tá Ánh xin Tư Lệnh để cậu xuống Cần Thơ làm
việc với ông ấy rồi." Qua một vài nhiệm sở, mấy năm sau
khi tôi trở về Sài Gòn làm Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Hải
Quân, thì ông Minh đã là một tên tuổi gắn liền với những chiến công ở
các vùng lửa đạn.
***
Từ năm 1970, Mỹ chuyển giao cấp tốc chiến hạm, chiến đỉnh và những căn
cứ tiếp vận cho Hải Quân Việt Nam . Trong thời gian chưa đầy 3 năm,
bắt đầu từ năm 1970, Hải Quân Việt Nam phải tuyển mộ và huấn luyện gần
30 ngàn Sĩ Quan và Đoàn Viên. Những sĩ quan đàn anh của tôi lên lon
vùn vụt mà hầu như không kịp với chức vụ và nhu cầu. Trước đó hai
tiếng Tư lệnh là một danh xưng độc nhất đầy tôn kính, chỉ để gọi vị Tư
Lệnh Hải Quân mà thôi. Bây giờ, từ năm 1970, ngoài vị Tư Lệnh Hải Quân
tại Sài Gòn, còn có nhiều vị Tư Lệnh khác: Tư Lệnh Vùng Duyên Hải, Tư
Lệnh Vùng Sông Ngòi, Tư Lệnh Lực Lượng.
Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của Miền Nam , ngoài những Giang Đoàn
Xung Phong ra, bây giờ có thêm trên 1000 chiến đỉnh đủ loại ngang dọc
trên khắp các vùng sông nước. Đó là những chiến đỉnh thuộc 3 Lực Lượng
Đặc Nhiệm: Lực Lượng Trung Ương, Lực Lượng Tuần Thám và Lực Lượng Thuỷ
Bộ. Đây cũng là nét rất đặc thù của Hải Quân Việt Nam . Vì trên thế
giới không có một một quốc gia nào có một lực lượng hải quân trong
sông to lớn và đa hiệu như thế. Niên trưởng Hoàng cơ Minh bây giờ là
Đại Tá, TưLệnh Lực Lượng Thuỷ Bộ. Đó là một lực lượng gồm khoảng 300
chiến đỉnh. Lực Lượng này được coi là dũng mãnh nhất, một mũi nhọn sắc
bén nhất trong sông ngòi của Hải Quân Việt Nam . Các chiến đỉnh của
Lực Lượng này vỏ dày, hoả
lực hùng hậu. Đặc biệt loại chiến đỉnh Tango, nóc bằng, trực thăng có
thể đáp xuống dễ dàng, có mặt ở khắp nơi, kể cả những vùng mà từ lâu
nay được coi là an toàn khu của địch. Từ Chương Thiện, Cà Mau, Sóc
Trăng đến Rạch Sỏi, Sẻo Rô, kinh Đồng Tiến, kinh Cổ Cò hóc hiểm sình
lầy, những "hàng không mẫu hạm tý hon" này đều có mặt, tạo ra những
phản ứng thần tốc, khốc liệt, kinh hoàng khiến đối phương không kịp
trở tay. Vì ngoài hoả lực cơ hữu của các chiến đỉnh và bộ quân tùng
đỉnh, khi cần, quân tiếp viện sẽ được trực thăng ào ạt chở tới,đáp
trên sàn tàu, mở đường, phản công và tản thương rất hữu hiệu. Nên mỗi
khi thấy chiến đỉnh của Thuỷ Bộ xuất hiện, địch chỉ còn có hai cách:
nằm im, ẩn mình; hoặc chẳng
đặng đừng thì liều lĩnh khai pháo rồi "chém vè" (chạy) để gục chết nát
thây mà thôi. Vì thế những vị chỉ huy trưởng bên Bộ Binh đều muốn có
những chiến đỉnh của Lực Lượng Thuỷ Bộ hoạt động trong vùng trách
nhiệm của mình.
Trong những cuộc hành quân sôi động, với một trực thăng biệt phái, ông
Minh hầu như hiện diện khắp nơi thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Những "đứa
con" của ông, hễ có đụng là đã thấy tiếng ông trên máy. Và khi khẩn
cấp, ngặt nghèo, không gọi, đã thấy ông bay trên đầu theo dõi, chỉ
thị, hỗ trợ và tiếp cứu.
Hãy theo dõi một đoạn bút ký của anh Nguyễn Đình Sài, cựu sĩ quan
trong Lực Lượng Thuỷ Bộ, diễn tả lại một trong những cảnh bi hùng từng
xẩy ra trên bao nhiêu khúc sông oan nghiệt trong cuộc chiến ở đồng
bằng sông Cửu Long: "...Tôi đang chỉ thị cho hai chiếc Alpha đến kéo
chiếc Monitor bị đạn ra thì bỗng thảm hoạ sẩy ra trước mắt. Thuỷ thủ
LVN trên chiếc Tango Bạch Hổ vừa trong ụ súng khẩu đại liên 20mm bước
ra ngoài, có lẽ không khí trong thành sắt quá hầm. Một tiếng "phụt"
vang lên, thây anh ngã vật xuống sàn, cáiđầu văng đâu mất tiêu. Trái
B41 không biết từ đâu bay tới hớt gọn cái đầu của anh, rồi lướt qua
sàn platform, nổ tung giữa sông... Tôi dùng máy báo cáo với "Thẩm
Quyền" đang bay trực thăng ở hướng tây, miệt Kiên Hưng. Qua tiếng
nói, tôi nhận ra giọng nói của "Thẩm Quyền", chính là Đại Tá Hoàng
cơMinh... Ông bảo đợi đó, đã có tiếp vận và tải thương đang trên đường
đến. Thếlà ông bay đi... Khoảng hơn giờ sau thì có tiếng máy tàu vọng
đến từ hạ giòng. Một đoàn giang đỉnh 5 chiếc gồm 3 Alpha và 2 Monitor
im lặng vô tuyến chạy vào,đến gần mới sang tần số hành quân để liên
lạc. Qua ánh đèn pin chiếu xuống sàn tàu hắt lên, tôi giật mình kinh
ngạc, nhận ra người đầu tiên nhảy sang tàu tôi chính là Đại Tá Hoàng
cơ Minh, Tư Lệnh Lực Lượng Thuỷ Bộ. Ông Minh bước đến xác thuỷ thủ N.,
lật tấm mền ra, cố ôm cái xác cụt đầu lên, cằm ông bạnh ra nhưmuốn kìm
chế nỗi thương tâm người thuộc cấp và lòng oán hận kẻ thù. Mọi người
lặng đi trong nỗi xúc động
tột cùng. Suốt cả đời tôi không bao giờ quên cảnh tượng bi hùng trong
giờ phútấy..."
Đọc đoạn búy ký này tôi rùng mình kinh sợ, hai tay nổi gai. Nhưng
trong Hải Quân, ai đã dấn thân vào những "vùng tử địa" như U Minh
Thượng, U Minh Hạ dưới quyền chỉ huy của tướng Minh, đều có những kỷ
niệm lạnh mình lo sợ, lẫn sững sờ mừng vui khi thấy vị Tư Lệnh của
mình bất ngờ xuất hiện nhưthế. Những cảnh huống ấy mỗi lúc mỗi nhiều,
chồng lớp và biến thể, thêm bớt thành những huyền thoại bao phủ hình
ảnh của niên trưởng Hoàng cơ Minh.
***
Nói đến những con kinh quan trọng trong đồng bằng sông Cửu Long, phải
nói đến kinh Phụng Hiệp, dài 140 cây số, nối liền ba tỉnh An Xuyên, Ba
Xuyên và Cần Thơ. Đặc biệt Ngã Bảy Phụng Hiệp là cửa ngõ, nơi hội tụ
và phân chia của ghe thuyền tới những vùng đất mầu mỡ quan trọng của
châu thổ Cửu Long, như trái tim chuyển máu đi nuôi toàn thân thể: từ
Phụng Hiệp đi Cái Côn đổ ra sông Hậu Giang; từ Phụng Hiệp xuôi kinh
Búng Tàu đi Năm Căn, Vĩnh Thuận, Cà mau; từPhụng Hiệp theo kinh Lái
Hiếu qua Trà Bang, Long Mỹ đi Chương Thiện, Rạch Giá... Bốn ngả còn
lại nối liền kinh rạch trong phạm vi tỉnh, huyện như Xẻo Môn, Sóc
Trang. Vì sự quan trọng này mà máu xương của người lính hai bên trận
tuyến đã liên tiếp gặp gỡ, đổ ra để giành giựt sự kiểm soát
thuỷ lộ huyết mạch này, như nhận định của Phó Đề Đốc Đinh mạnh Hùng,
Phụ Tá TưLệnh Hành Quân Sông: "Kinh Phụng Hiệp thuộc hệ thống thuỷ lộ
đi từ Hậu Giang, tỉnh Phong Dinh đến Cà Mâu, tỉnh An Xuyên. Quận Phụng
Hiệp, Phong Dinh, nơi gặp gỡ của nhiều con kinh, ranh giới của hai
tỉnh Ba Xuyên và Chương Thiện.Đây là thuỷ lộ huyết mạch chuyển vận lúa
gạo và hàng hoá giữa các tỉnh miền Hậu Giang với miền Đông, nên rất
quan trọng cho nền kinh tế quốc gia".
Khi làm Tư Lệnh Lực Lượng Thuỷ Bộ, ông Minh đã có mặt trên những khúc
thuỷtrình sắt máu này, như những người lính tiền phong tiến vào vùng
lửa đạn. Theo lời kể của anh Lý anh Kiệt, Tham Mưu Phó Hành Quân, kiêm
Trưởng Phòng 3 của Lực Lượng này trong các năm 1973-75, như sau: "Dọc
theo kinh Phụng Hiệp, từCần Thơ đi Sóc Trăng dài hun hút, năm 1974,
gần 50 đồn bót bị Cộng Quân san bằng. Tư Lệnh Quân Đoàn 4 ra lệnh:
bằng mọi giá phải xây dựng lại. Trong cuộc hành quân này vai trò của
Hải Quân rất là nặng nề: Dùng đường thuỷ mở lại đầu cầu. Chở Bộ Binh
tái chiếm. Yểm trợ Bộ Binh xây dựng lại đồn bót. Đặc biệt chú trọng
đến công tác Tâm Lý Chiến, Dân Sự Vụ, giúp dân xây dựng lại cửa nhà.
Nhưthế trong vùng "xôi đậu" này, dưới nước
thuỷ lôi nhiều như dừa khô; Trên bờ địch lẩn trong dân như trấu. Vậy
mà trên chiếc xe Jeep chạy dọc theo bờ kinh dài hun hút, tướng Minh
vẫn ra lệnh cắm hiệu kỳ 1 sao phấp phới. Khi di chuyển dưới nước, khai
diễn cuộc hành quân, ông ngồi trên mui chiếc Fom, đi đầu đoàn chiến
đỉnh, ngôi sao bạc vẫn lấp lánh trên vai áo. Mình đi theo ông, thấy
ông như thế, chẳng lẽ ngồi trong lòng tàu, đành cũng phải đứng quanh
quẩn sau ông. Một tràng đại liên, một quả B40 phụt ra là tất cả Bộ
Tham Mưu Lực Lượng bay hết. Không giải thích được. Có lẽ ông Minh tin
mạnh mẽ vào cung mệnh của mình trong lá số tử vi. Và có lẽ địch cũng
không thểngờ trên một chiến đỉnh nhỏ bé ấy lại có một ông tướng ngồi
trên mui tàu, dẫnđầu cuộc hành quân."
Nói về ăn uống, có nhiều người vẫn cho rằng Hải Quân sang trọng, ăn
uống kiểu cách, thừa mứa. Điều ấy có lẽ khá đúng trong thời gian đầu
dưới quy chế của Hải Quân Pháp mà thôi. Sau này, nhất là trong giai
đoạn cam go của cuộc chiến, mọi quân nhân, bất cứ cấp bậc, và quân
binh chủng nào, cuộc sống đều rất kiệm ước, khó khăn. Phó Đề Đốc Đặng
cao Thăng, xuất thân từ trường sĩ quan danh tiếng của Pháp, trường
Brest , cho hay: "Lương lậu chúng tôi chỉ đủ ăn. Hàng ngày chúng tôi
dùng cơm trong Câu Lạc Bộ, kể cả tướng Nguyễn khoa Nam , Tư Lệnh Quân
Đoàn. Tôi đôi khiăn cơm gánh (tà lọt) mua về từ chợ Cần Thơ."
Tướng Hoàng cơ Minh chẳng những không ra ngoài thông lệ ấy, mà ông còn
giản dịhơn nhiều. Anh Lý anh Kiệt cho hay: "Hàng ngày ông Minh ăn
trong Câu Lạc Bộ như những sĩ quan khác. Nếu bất ngờ có khách, ông sai
mổ ngay một con heo... (hộp). Thuốc thì như lính, rặt Bastos xanh,
khét lẹt. Khi bay thị sát chiến trường hay thăm viếng các đơn vị trực
thuộc, ông và đoàn tuỳ tùng, mỗi người đem theo một ổ bánh mì dài, hay
mấy bị cơm sấy và một bi-đông nước. "Tránh làm phiền những đơn vị",
ông luôn nhắc nhở các sĩ quan như thế. Lúc rảnh rỗi ông nghiền ngẫm bộ
Tam Quốc Chí. Trong khi tụi tao thì nghiện Cô Gái Đồ Long. Ông bảo:
Nhà binh phải thuộc Tam Quốc Chí. Hay lắm, áp dụng vào thực tế vẫn hữu
ích vô cùng..."
Nhân câu chuyện này cũng khiến tôi nhớ đến bữa tiệc được tổ chức tại
Bộ Tư Lệnh Thuỷ Bộ vào năm 1973, khoản đãi Tư Lệnh Hải Quân và phái
đoàn thanh tra.
Bữa tiệc diễn ra đúng nghi lễ. Các sĩ quan chủ cũng như khách mặc tiểu
lễtrắng, lon vàng mới óng ánh, giây biểu chương và huy chương cuống
rực rỡ. 6 người một bàn. Các bàn kê sát nhau thành một hàng dài, trải
khăn bàn trắng tinh. Tư Lệnh Hải Quân ngồi ở đầu bàn, chỗ ngồi danh dự
nhất. Đối diện với TưLệnh, cuối dãy bàn là vị trí của vị sĩ quan ít
thâm niên nhất, và đương nhiên là Sĩ Quan Ẩm Thực. Trước khi vào tiệc,
Sĩ Quan Ẩm Thực đứng lên, trịnh trọngđọc thực đơn, đúng theo truyền
thống Hải Quân trong những bữa tiệc quan trọng. Nhưng thực đơn hôm ấy
chỉ là mấy món ăn đơn giản như một bữa cơm thường trong Câu Lạc Bộ gồm
thịt kho, dưa giá. Món canh là một con vịt hầm rất kỹ trong một nồi
lớn, đầy nước đang xôi, bốc khói
nghi ngút. Bên cạnh đó là một đĩa rau sống khổng lồ, để nhúng vào nồi
nước hầm vịt. Vị Sĩ Quan Ẩm Thực hình như đã được học tập, chỉ thị chu
đáo, nên đã trình bày khá tỷ mỉ và duyên dáng về món ăn "quan trọng"
này. Đó cũng là món chính, món cuối cùng. Vì sau món đó là đồ tráng
miệng bằng chuối. (Có nghĩa là bữa ăn chỉ có thế thôi, không còn gì
thêm nữa đâu).
Tôi có tham dự bữa ăn này, vì lúc ấy tôi là Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến,
Bộ TưLệnh Hải Quân, tháp tùng Đô Đốc Tư Lệnh trong phái đoàn thanh
tra. Nghe đọc thực đơn chúng tôi không dám cười. Mọi người không ai
dám cười, vì bữa ăn này còn là một nghi lễ, được đánh giá, cho điểm
như một sinh hoạt của đơn vị. Sau tôi có hỏi một sĩ quan: Sao lại đơn
sơ quá vậy? Vị sĩ quan này cho biết: "Tư Lệnh chúng tôi không đồng ý
để các sĩ quan phải đóng nhiều tiền đãi khách. Thuỷ Bộ hành quân liên
miên, không có một ngân quỹ nào để khoản đãi pháiđoàn."
Việc này, mới đây (tháng 12, 2002), tôi có nhắc lại với anh Lý anh
Kiệt. Anh Kiệt nói: "Ông Minh lúc đầu còn chỉ thị tụi tao sẽ thu tiền
ăn các người tham dự, trừ Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân mà thôi. Thấy kỳ
quá, chính tụi tao bỏtiền ra đãi khách, ông Minh không biết. Không ai
dám cho ông biết sự thật đó cả. Cũng vì thế bữa tiệc cũng không dám
bày vẽ gì thêm".
Vẫn lời anh Lý anh Kiệt: "Cũng không biết thế nào mà nói. Ông can
trường, giản dị và liêm khiết như tao biết đã đành. Nhưng có những
điều tao nghĩ không ra. Như hồi 1974, đoàn convoi do giang đoàn của
Quyên (Thiếu Tá Nguyễn ngọc Quyên) khoá mình hộ tống, gặp tụi Việt
Cộng tấn công tàn bạo quá ở khúc sông khúc khuỷu Cổ Cò. Quyên kêu cứu
tao, là Tham Mưu Phó Hành Quân kiêm Trưởng Phòng 3, tao trình lên ông,
ông thuận, rồi tao xỉ một đơn vị thuộc Lực Lượng Thuỷ Bộ đang hành
quân gần đó cấp tốc đến tiếp cứu, giải vây. Đoàn giang vận mấy chục
chiếc, chở hàng ngàn tấn gạo, cá mắm, khi bị tấn công, chạy tản mát
tứtán, được tụi tao gom lại đầy đủ. Đoàn convoi tiếp tục lên đường về
Sài Gòn, không rơi một hạt thóc. Ít tháng sau, nhân Sinh
Nhật Một Năm của Lực Lượng, chủ đoàn convoi tìm đến Bộ Tư Lệnh Thuỷ
Bộ, với tinh thần hậu phương yểm trợ tiền tuyến, xin ủng hộ Lực Lượng
một triệu đồng đểLực Lượng làm lễ liên hoan. Tao mừng, và trình lên
ông Minh. Ông không cho nhận, còn xạc tao một trận. Thật không biết
sao mà nói."
Từ những can trường, dũng mãnh và hành xử đặc biệt ấy, ông Minh đã
thăng hoa,đeo sao ở Lực Lượng Thuỷ Bộ, qua mặt rất đông những vị đàn
anh. Từ đó lớp hào quang và huyền thoại quanh ông hầu như mỗi lúc mỗi
thêm dày đặc. Có những phỏngđoán, đồn đại: ông Minh sẽ nắm chức vụ
này, chức nọ nay mai.
Sau đó là lúc đất nước đến hồi nghiêng ngửa, vào tháng 3 năm 1975,
tướng Minhđược chỉ định ra Miền Trung làm Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải.
Một vùng duyên hải dài nhất trong 5 vùng, chạy dài từ Quy Nhơn đến
Phan Thiết, gồm những duyênđoàn 21 đóng tại Tam Quan, Hải Đội 2 Duyên
Phòng đóng tại Quy Nhơn (căn cứ cũcủa Duyên Đoàn 22 đã giải tán),
Duyên Đoàn 23 tại Sông Cầu, duyên đoàn 25 tại Hòn Khói, duyên đoàn 26
tại Bình Ba, duyên đoàn 27 tại Ninh Chữ và duyên đoàn 28 tại Phan
Thiết. Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải đóng tại Cam Ranh, chỉ huy tất cả 6
duyên đoàn, và mấy chục Duyên Tốc Đỉnh của Hải Đội Duyên Phòng, những
cơsở tiếp vận sửa chữa, các đài kiểm báo trong vùng và những chiến hạm
của HạmĐội biệt phái.
Ngày 31 tháng 3, Quy Nhơn địa đầu cực Bắc của vùng 2 Duyên Hải ở trong
tình trạng nguy ngập. Ngoài những đơn vị cơ hữu trực thuộc, trên mặt
biển ngoài khơi Quy Nhơn có những chiến hạm sau đây từ Sài Gòn biệt
phái hiện diện, đặt dưới quyền điều động của tướng Hoàng cơ Minh: HQ
2, HQ 3. HQ 7, HQ 400, HQ 403, HQ 406, HQ 505 và một số những chiến
hạm nhỏ. Tướng Minh hiện diện trên Tuần Dương Hạm Trần nhật Duật, HQ
3, do HQ Trung Tá Nguyễn kim Triệu làm Hạm Trưởng, tướng kỳ 1 sao
trắng trên nền xanh, phấp phới trên kỳ đài.
Sáng ngày 31 tháng 3, lệnh từ Sài Gòn, chỉ thị cho Hải Quân vào bãi
biển Quy Nhơn bốc Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Hai hải vận hạm HQ 403 và HQ
400, dưới sự đôn đốc của HQ Trung Tá Lê thuần Phong, Chỉ Huy Trưởng
Hải Đội Chuyển Vận, ủi bãi Quy Nhơn, trước trường Sư Phạm để đón quân
của Sư Đoàn 22 đang có mặt trên bãi. Nhưng tàu vừa hướng mũi vào bãi
ủi, bị hoả lực của địch bắn ra quá mạnh. B40 nổtung phía trước. Chiến
hạm phải lùi ra, trong nhiệm sở tác chiến, đồng thời thảthang giây và
lưới hai bên hông chiến hạm để anh em Bộ Binh leo lên tàu. Do đó quân
từ trên bờ của Sư Đoàn 22 Bộ Binh phải liều chết bơi ra tàu. Cuộc vớt
người diễn ra trên vùng biển Quy Nhơn suốt ngày đêm rất khó nhọc, bi
thương, nhưng không đến nỗi ngập máu như ở
Đà Nẵng. Biển êm. Tàu chỉ lùi ra ở độ xa vừa phải, ngoài tầm đạn địch,
dùng hoảlực cơ hữu của chiến hạm phản pháo và bắn cản địch đang tiến
tới ở trên bờ,phía sau anh em Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Trong số những quân
nhân bơi ra biển vàđược chiến hạm Hải Quân vớt, có cả Thiếu Tướng Phan
đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Lên được chiến hạm HQ 400,
tướng Niệm ở trong tình trạng suy nhược nặng nề cả thể chất lẫn tinh
thần. Ông được săn sóc đặc biệt, vì HQ 400 vốn là một bệnh viện hạm.
Tất nhiên mọi quân nhân của của Sư Đoàn này lên được chiến hạm, ai
cũng sũng nước, đói khát nằm lăn ra sàn tàu, không còn hàng ngũ gì
nữa. Thiếu Tướng Phạm văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn 2, chỉ định Tướng
Minh thay thếtướng Niệm, kiêm
nhiệm Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh và Tư Lệnh chiến trường Bình Định.
2 giờ sáng ngày 2 tháng 4, Tướng Minh nhận được lệnh từ Sài Gòn qua Bộ
Tư Lệnh Hải Quân và trên Đài Quân Đội thông báo: Tổng Thống Thiệu bổ
nhiệm tướng Minh làm Tổng Trấn Quy Nhơn. Tướng Minh có toàn quyền điều
động tất cả lực lượng tạiđịa phương để tái chiếm Quy Nhơn, gồm Sư Đoàn
22 BB, Biệt Động Quân, Địa Phương Quân, Hải Quân. Trung Tá Nguyễn kim
Triệu, Hạm Trưởng HQ 3, nhớ lại, cho biết: "Để thi hành lệnh này, sáng
sớm ngày 2 tháng 4, ông Minh chỉ thị các chiến hạm hiện diện, túc trực
ở sát bờ biển Quy Nhơn, sẵn sàng nhận lệnh cuả ông từtrong bờ. Đích
thân tướng Minh và Bộ Tham Mưu nhẹ, rời HQ 3, xuống chiến đỉnh nhỏ vào
Bộ Chỉ Huy Hải Đội 2 Duyên Phòng, để trực tiếp nắm vững tình hình trên
bộ. Từ đây những liên
lạc hàng dọc, cũng như hàng ngang với các đơn vị bạn đã vắng ngắt.
Nhất là trên các tần số liên lạc với Sư Đoàn 22 Bộ Binh, không còn ai
nghe nữa. Riêng vềTướng Phan đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 BB, vì sức
khoẻ suy kiệt, được điều trị trên Bệnh Viện Hạm HQ 400, đang ở ngoài
khơi Vũng Tàu, trên đường về Sài Gòn. Trước hoàn cảnh này, tướng Minh
trở lại HQ 3, tường trình về Sài Gòn. Tất cả các chiến hạm biệt phái
cho Vùng 2 Duyên Hải và các chiến đỉnh trực thuộc, theo lệnh tướng
Minh, xuôi Nam ."
Trên đường xuôi Nam , các chiến hạm nối đuôi nhau, uy nghiêm, thứ tự
như diễn hành thao dượt. Vẫn lá cờ xanh, một ngôi sao trắng trên cánh
phải của cột cờ, phấp phới tung bay. Biển êm như mặt kính, chưa bao
giờ lại êm như thế. Các chiến thuyền của các DuyênĐoàn, nhất là các
Duyên Tốc Đỉnh của Hải Đội Duyên Phòng chở theo đầy người, quân nhân
và gia đình, chạy dọc theo hai bên đoàn tàu. Những ghe dân túa ra
nhưlá tre. Tướng Minh ra lệnh cho các chiến đỉnh, chiến thuyền của đơn
vị thận trọng để tránh địch và những phần tử vô kỷ luật gây xáo trộn;
và tuỳ khả năng, các chiến đỉnh cố gắng cứu vớt hoặc trợ giúp mọi
người. Nếu vớt được quá đông người thì ghé vào các chiến hạm lớn, san
người lên đó. Bất cứ quân nhân nào
bước lên chiến hạm, chiến đỉnh, nếu có khí giới, đều phải giao nộp,
cất vào kho.
Trở lại Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải tại Cam Ranh, ông Minh dùng trực
thăng thịsát mặt trận, theo dõi tình hình trong vùng trách nhiệm, và
ra lệnh cho các chiến hạm tận dụng hải pháo bắn ngăn chặn bước tiến
của Bắc quân, phá sập những cây cầu quan trọng. Cam Ranh xáo trộn. Ông
trở lại HQ 3, tiếp tục xuôi Nam . Ông ra lệnh phá huỷ Trung Tâm Phát
Tuyến trên đảo Cam Ranh. Chiều ngày 3 tháng 4, hảiđoàn đi ngang Duyên
Đoàn 27 ở Ninh Chữ, tướng Minh rời HQ 3, sang Tuần dương Hạm HQ 2, do
HQ Trung Tá Đinh mạnh Hùng, khoá 11 (trùng tên với Phó Đề Đốc Đinh
mạnh Hùng), làm Hạm Trưởng. Hạm Trưởng Hùng và toán dàn chào đón đợi ở
hạm kiều và hướng dẫn tướng Minh lên Trung Tâm Chiến Báo (CIC) của
chiến hạm. Tại đây tướng Minh lại tiếp tục theo dõi trận liệt
và chỉ huy mặt trận tại địa phương.
Ngày 15 tháng 4, tướng Minh đáp trực thăng vào phi trường Phan Rang,
quê hương của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, họp cùng Trung Tướng Nguyễn
vĩnh Nghi, Tư Lệnh Mặt Trận Phan Rang; Chuẩn Tướng Nguyễn văn Nhựt (Sư
Đoàn 2 Bộ Binh); Chuẩn Tướng Phạm ngọc Sang, Tư Lệnh SĐ 6 KQ và một số
sĩ quan khác, để cùng phối hợp hoạt động tại mặt trận này.
Trung Tá Đinh mạnh Hùng cho hay: "Mới xong phần giới thiệu thành phần
tham dự, thì có tin phi trường đã bị địch bao vây, buổi họp giải tán
ngay. Tướng Minh cấp tốc được trực thăng bốc ra Soái Hạm HQ 3".
Tối 16 tháng 4, tình hình Phan Rang trở nên sôi động. Tăng T54 của
địch nằm ngay bãi biển Phan Rang, chĩa súng ra khơi. Dương vận Hạm HQ
503 do HQ Trung Tá Nguyễn văn Lộc, khoá 11, vào gần bờ phản pháo. Khi
HQ 503 quay ngang để tận dụng hết khả năng hoả lực bắn vào bờ, Việt
Cộng dùng đại bác 105 ly lấy được của mình bắn trực xạ ra chiến hạm.
Một trái đại bác trúng đài chỉ huy, nổ tung, Hạm Trưởng Lộc bị thương
vào đầu, máu ra sối xả, nhưng ông vẫn bình tĩnh ra lệnh cho tàu rút ra
khơi. (Cho đến nay, gần 30 năm, mảnh đạn vẫn trong đầu của Hạm Trưởng
Lộc, vì không thể giải phẫu, lấy mảnh đạn ra. Giải phẫu là chết. Ông
hiện ở trong tình trạng khi đau, khi tỉnh). HQ 3, HQ 505 và HQ 406
cũng đổi vịthế, lùi ra ngoài tầm bắn của địch.
Ngày 17 tháng 4, HQ 406 chở Cảnh Sát Dã Chiến, dự trù đổ bộ tăng cường
cho Phan Rang, không thành, được lệnh về Cát Lở. HQ 505 nằm ngoài khơi
vịnh Phan Rang chờ lệnh. HQ 3 được lệnh đưa phó Đề Đốc Hoàng cơ Minh
trở lại Sài Gòn. HQ 3 đặt dưới quyền điều động của Phó Đề Đốc Nguyễn
hữu Chí, Phụ Tá Hành Quân Biển. Trong khi đó, Trung Tướng Nguyễn vĩnh
Nghi, Tư Lệnh mặt trận Phan Rang và Chuẩn Tướng Phạm ngọc Sang, Tư
Lệnh SĐ6KQ bị địch bắt. Tin này được loan báo trên đài phát thanh Sài
Gòn. Đài phát thanh Hà Nội cũng loan tin này với những lời phát biểu
ngắn của chính Trung Tướng Nguyễn vĩnh Nghi. Mặt trận Phan Rang vỡ. Cứ
điểm chống cự sống chết của Sài Gòn bây giờ là Xuân Lộc.
***
Từ mặt trận Vùng 2 Duyên Hải trở về, đóng tại Cát Lái, Phó Đề Đốc
Hoàng cơ Minh làm việc với Phó Đề Đốc Đinh mạnh Hùng, Phụ Tá Tư Lệnh
Hải Quân, đặc trách Hành Quân Sông. Trong hàng tướng lãnh Hải Quân,
dưới Phó Đô Đốc Chung tấn Cang, 3 sao, Tư Lệnh Hải Quân, Phó Đề Đốc
Đinh mạnh Hùng, 1 sao, là người thâm niên nhất. (Hai vị tướng 2 sao
khác là Đề Đốc Trần văn Chơn, cựu Tư Lệnh Hải Quân, thì đã về hưu; Đề
Đốc Lâm ngươn Tánh, cựu Tư Lệnh Hải Quân thì được biệt phái sang Phủ
Quốc Vụ Khanh, lo cho người tỵ nạn). Tướng Hùng xuất thân khoá 2
SĩQuan Hải Quân Nha Trang, từng lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ quan
trọng. Ông cũng được tiếng là một vị sĩ quan cẩn trọng, lịch duyệt,
kín đáo, được thượng cấp tin cẩn và
thuộc cấp kính trọng. Trong cuộc nói chuyện với Đô Đốc Chung tấn Cang,
chúng tôi có hỏi rằng: "Ai là người có công nhất trong việc đem đoàn
tàu ra khơi?" Đô Đốc Cang cho biết: "Hải Quân, như một chiếc tàu,
không ai làm việc được một mình. Mọi thành công lớn, nhỏ, đều là công
sức của tập thể,của nhiều người. Nhưng riêng trong việc đem đoàn tàu
ra khơi, người có công nhất, ngày đêm lo cho đoàn tàu, là ông Hùng.
Phó Đề Đốc Đinh mạnh Hùng..." Trong khi đó, là một sĩ quan Hải Quân di
tản trên con tàu Thị Nại, HQ 502, một con tàu hỏng máy, chở theo trên
5000 người lênh đênh, khốn khổ lết ra được ngoài khơi Côn Sơn, khi kêu
cứu, liên lạc, chúng tôi chỉ thấy tiếng nói của tướng Hoàng cơ Minh
trên máy. Do đó chúng tôi có nêu thắc mắc này với
Tướng Đinh mạnh Hùng. Tướng Hùng trả lời đại ý: "Ở trên HQ 3, Soái
Hạm, trên hết là Đô Đốc Chung tấn Cang, còn có Phó Đề Đốc Diệp quang
Thuỷ, rồi sauđó còn có Phó Đề Đốc Nghiêm văn Phú và một số Đại Tá.
Trước khi đoàn tàu lênđường, chúng tôi có mời những vị tướng lãnh, các
vị sĩ quan cao cấp ở những tàu khác sang họp. Sau, ai về tàu nấy với
gia đình. Còn lại trên tàu, tôi thỉnh ý, nhận lệnh từ Đô Đốc Cang, rồi
cùng bàn bạc mà thi hành. Đúng, các anh chỉ nghe thấy tiếng ông Minh
trên máy. Vì trong chuyến hải hành đặc biệt này, để tránh ngộ nhận và
rối loạn tần số, ông Minh được Đô Đốc Cang chỉ định trách nhiệm vềliên
lạc chỉ huy từ Soái Hạm, một tiếng nói chính thức và duy nhất. Ông
Minh làm việc rất chuyên cần,
24/24, hầu như không biết mệt. Tiếng ông Minh rõ ràng, có hùng lực,
được anh em Hải Quân biết tới nhiều và kính trọng."
Chúng tôi cũng đem ý kiến này hỏi Trung Tá Nguyễn kim Triệu, Hạm
Trưởng HQ 3, ông Triệu cho hay: "Trong phòng Chiến Báo (CIC), chỉ có
ông Hùng và ông Minh luôn túc trực, theo dõi mọi diễn tiến của Hạm
Đội, nhận lệnh từ Đô Đốc Cang mà thi hành. Cả hai ông ấy đều làm việc
rất nhiều, mỗi người mỗi việc, rất là nghiêm túc. Ông Hùng thì trông
nom tổng quát. Ông Minh trực tiếp điều động. Tôi (Hạm Trưởng HQ 3),
nhận lệnh từ 2 vị này, lo cho con tàu của mình mà thôi."
***
Bây giờ gần 30 năm giã từ quân ngũ. Tuỳ khả năngvà hoàn cảnh, mỗi
người phải bắt đầu làm lại cuộc sống từ con số không. Chẳng còn ai to,
ai nhỏ nữa. Những tình cảm, kính trọng đối với nhau, tất nhiên không
phải là những cấp bậc cao thấp khi xưa, mà là tư cách của mỗi cá nhân
còn đọng lại trong trí nhớ của nhau. Tập thể nào cũng có những kẻ bất
xứng, lợi dụng đục nước thả câu. Nhưng trong gia đình Hải Quân không
thiếu những người đầy tư cách, trong đó có niên trưởng Hoàng cơ Minh.
Trong những kỷ niệm đáng nhớ với tướng Minh, tôi đặc biệt nhớ hai sự
việc này:
Thứ nhất, khi Hạm Đội Việt Nam Cộng Hoà tới bờ biển Phi Luật Tân,
chính tiếng ông Minh trên máy, chuyển công điện cuối cùng của Hải
Quân, như sau:
Nhóm ngày giờ:071010H/05/75.
From: của HQ 3.
To: Tất cả các chiến hạm.
Để chuyển giao các chiến hạm cho Hải Quân Hoa Kỳ/ Yêu cầu các nơi nhận
chuẩn bịthi hành khi có chỉ thị / Các chiến hạm tự tổ chức làm lễ hạ
quốc kỳ Việt Nam và trương quốc kỳ Hoa Kỳ / Tiểu đỉnh của Hoa Kỳ sẽ
sơn và xoá tên chiến hạm Việt Nam ở sau lại / Giờ giấc thi hành sẽ
thông báo sau / Hết.
Từ công điện này, vào hồi 12 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1975, trên Biển
Đông, các chiến hạm của VNCH đã cùng nhau làm lễ chào cờ lần cuối và
hạ quốc kỳ VNCH xuống. Những xúc động khôn cùng đã lưu lại trong bao
nhiêu trái tim đau khổ.Phút chốc cả đoàn tàu dũng mãnh, nghiêm túc, đủ
loại của Hải Quân Việt Nam, giờ đã phấp phới quốc kỳ Mỹ, lần lượt cập
cầu căn cứ Subic của Mỹ ở Phi luật Tân.
Đoàn người từ các chiến hạm lũ lượt mang hành lý sang con tàu buôn
Green Forrest. Một con tàu chở hàng khổng lồ. Những khoang trống, sâu
hun hút rộng thênh, bây giờ được bắc tạm những cầu thang gỗ để lên
xuống. Đoàn người như một thứ hàng hoá không còn giá trị, xô bồ, đầy
bất trắc, xúc động, rất dễ bùng lên thành những xáo trộn khó lường,
khó xử, như mới chỉ vài tuần trước đây đã từng xẩy ra trên chính con
tàu này khi di chuyển người từ Đà Nẵng vào Phú Quốc. Theo sự cho biết
của Phó Đề Đốc Đặng cao Thăng thì: "Các vị Tư Lệnh, phần lớn là cấp
tướng, được Mỹ chở thẳng vào Guam bằng máy bay. Riêng ông Minh, ông
tình nguyện đi tàu biển cùng với anh em thuỷ thủ đoàn và dân chúng.
Cuộc đi khá dài, cực khổ, tế nhị. Sự hiện
diện của ông Minh, theo tôi, đã giữ tinh thần cho anh em rất nhiều."
Kỷ niệm đáng nhớ thứ hai, vào trung tuần tháng 5 năm 1975, trong khu
lều vải Orote Point, Guam, với tư cách cá nhân, tướng Minh đã tìm đến
đây để sinh hoạt với anh em Hải Quân. Trong bơ vơ và tràn đầy xúc
động, nhiều anh em đã ngẹn ngào nêu những thắc mắc, phẫn nộ liên hệ
đến một vài tin đồn, những hành động bất xứng của người này, người
khác. Ông Minh, rất bình tĩnh giải đáp và khuyên can. Đặc biệt, để kết
luận, ông đã nói: "Việc anh nêu lên là thượng cấp không ai có ý kiến
gì hướng dẫn anh em. Điều này quả thực tôi cũng có nghĩ đến, nên hôm
nay mới tìm đến đây với anh em. Song đó chỉ là ý kiến cá nhân tôi, còn
các vị khác, theo như tôi biết, tất cả còn rất bàng hoàng. Mọi việc đã
xẩy ra ngoài dự trù của chúng ta. Dù ai có ý
kiến gì lúc này chắc cũng không thể nào thi hành được. Một ván cờ đã
xoá. Mọi việc đã xong. Điều mà chúng ta phải làm là, ngoài việc định
cư trên đất mới, chúng ta phải sáng suốt tìm hiểu mọi diễn tiến của
thời cuộc, và đặc biệt giữ lấy mối căm thù mất nước ngày hôm nay. Từ
đó chúng ta sẽ đoàn kết lại mưu cầu một vận hội mới sau này."
***
Để có một cái nhìn cụ thể, một nhận định đã trực tiếp ảnh hưởng đến
binh nghiệp của ông Minh, bài viết này đã được gửi lên vị cựu Tư Lệnh
Hải Quân, người đã phê điểm và đề nghị ông Minh lên tướng, Đề Đốc Trần
văn Chơn đã đọc rất kỹ và ghi chú: "Anh viết đúng lắm. Ông Minh là một
người tài giỏi. Khi làm Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị tại Bộ Tư
Lệnh Hải Quân, ông Minh đã chứng tỏ được lòng hăng say, nhiều sáng
kiến trong lãnh vực tham mưu. Khi được giao trách vụ Tư Lệnh Lực Lượng
Thuỷ Bộ, hơn ai hết, ông Minh đã tỏ ra can trường và rất là tháo vát.
Lực Lượng của ông không chỉ đã góp công trong việc khai thông kinh
Phụng Hiệp, giữ huyết mạch kinh tế giữa Sài Gòn và vùng châu thổ Cửu
Long giang, mà Lực Lượng Thuỷ
Bộ dưới quyền chỉ huy trực tiếp của ông Minh đã quần nát vùng U Minh
Thượng, U Minh Hạ, mật khu an toàn và hậu cần căn bản của địch, gây
cho chúng nhiều thiệt hại về nhiều mặt, ảnh hưởng rất lâu dài. Ông
Minh khoá 5, khi lên tướng mới 38 tuổi, trẻ nhất trong hàng tướng lãnh
Hải Quân, vượt qua nhiều vị đàn anh, chính vì ông Minh đã có đủ Tài,
Đức và lòng Dũng Cảm. Trong danh sách, tôi đề nghịông Minh cùng một
vài vị Đại Tá khác thâm niên hơn ông Minh. Tôi nghĩ rằng Tổng Thống
Thiệu đã chọn ông Minh chính nhờ lòng dũng cảm hơn người của ông Minh.
Nếu vận hội bình thường, Miền Nam còn, tương lai của ông Minh, tôi
nghĩ, sẽ vô cùng sáng lạn. Sau này khi ông Minh lãnh đạo Mặt Trận Quốc
Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam , thì tôi còn ở tù.
Việt Cộng tỏ ra rất căm tức và có hỏi tôi rất nhiều về ông Minh. Tôi
đã hết lời ca ngợi và nói rằng ông Minh là một vị tướng tài của Hải
Quân Miền Nam ".
***
Từ 1975 về sau, trong một vận hội mới, Phó Đề Đốc Hoàng cơ Minh là một
khuôn mặt xuất hiện trước ánh sáng của thời cuộc, với bao nhiêu vinh
quang và hệ luỵvui buồn. Ông sinh ngày 20 tháng 6 năm 1935, đã hy sinh
dũng liệt cùng những chiến hữu tại Nam Lào ngày 28 tháng 8 năm 1987,
trên đường trở về mưu cầu giải phóng quê hương. Người viết không phải
là thành viên của tổ chức này, không nắm vững vấn đề, nên không dám đề
cập, nhận định về những hoạt động sau này của ông. Là một quân nhân
cấp nhỏ, có một thời mặc cùng mầu áo với ông, được tin ông nằm xuống,
tôi rất bàng hoàng, xúc động và hết lòng kính ngưỡng. Tôi thu góp một
số dữ kiện liên hệ trong thời quân ngũ của ông, ghi lại thành bài viết
này, thay cho một nén hương tưởng
niệm, nghiêng mình kính cẩn trước anh linh của một vị chỉ huy mẫu mực,
một vịtướng can trường, một tấm gương thanh liêm và trong sáng của Hải
Quân Việt Nam Cộng Hoà. Hy vọng bài viết này thay cho lời phân ưu muộn
màng gửi tới đại giađình Hoàng Cơ và phu nhân Phó Đề Đốc Hoàng cơ
Minh.su doan 21 bb
Tuong Hoang Co Minh la vi tuong gan va yeu nuoc, nen toi co lap bia tho ong o sau vuon cung voi cac vi tuong ta da chet that la anh dung nhu: Tuong Nguyen Khoa Nam, Tuong Le van hung, Tuong Pham Van Phu, Tuong Tran Van Hai, Tuong Le Nguyen Vy,Chi si Tran Van Ba, Dai ta Ho Ngoc Can, Trung Ta Nguyen Van Long.Toi con nho la luc toi tung su tai Quan Doan IV Tu Dinh Tu Lenh Pho Chuan Tuong Le Van Hung,Tai phong khach cua Tu Dinh Tuong HUNG co treo buc tranh hinh chiec thuyen buom cua Dai Ta HOANG CO MINH tu lenh luc luong thuy bo than tang. Chi co mot buc tranh cua Ong MINH ma thoi tai phong khach , thi phai biet Tuong Hung qui men Ong MINH co nao. Tuong LE VAN HUNG la mot vi tuong Tai,Gioi va liem khiet Ca doi Ong tung lam,Quan Truong, Tieu Doan Truong, Trung Doan Truong Tinh Truong, Tu Lenh Su Doan, Tu Lenh Pho Quan Doan den khi Ong TUAN TIET chua co duoc can nha rieng de o, ong o toan la nha chinh phu cap.Con nhu nhieu nguoi phe binh Tuong Hoang Co Minh thi toi xin hoi mot cau cac ban co dam bo tat ca o MY ma ve chien khu nhu Tuong MINH hay khong? THACH HOA TRANG can tu.
chuong truong
Phó Đề đốc Hoàng cơ Minh
Một vị tướng xứng đáng được vinh danh là anh hùng.
Chau Nguyen
Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012
Phó Đề ĐỐc Hoàng cơ Minh
Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2012
CIA tự diển ở VN
Hai tài liệu mật của CIA về Các Tướng Lãnh VN và gia đình T/T Ngô đình Diệm .
Nguyen Ky Phong
November 3, 20100 Bình Luận
Hai tác phẩm: “CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam” và “CIA and the House of Ngo: Covert Action in South Vietnam, 1954-1963.” Tác Giả: Thomas L. Ahern, Jr. Center for the Study of Intelligence ấn hành.
13th May 1957: South Vietnamese President Ngo Dinh Diem greets the crowd as he rides with Commissioner Richard Patterson and Chief Protocol of the State Department, Wiley T. Buchanan Jr. in a parade up Broadway, New York City. (Photo by Carl T. Gossett Jr/New York Times Co./Getty Images)
Một số tiết lộ về cuộc chiến từ tài liệu CIA Lần đầu tiên trong lịch sử của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA), ban biên tập của cơ quan cho giải mật hai tập tài liệu quan trọng về liên hệ CIA và Việt Nam. “Lần đầu tiên” trong nghĩa này là hai quyển sách trên thuộc lọai (narrative history), có đầu đuôi, chú thích – và quan trọng hơn hết – tác giả là người thật, đọc nhiều tài liệu và viết lại có ngọn ngành cho độc giả.
Đa số những tài liệu giải mật của CIA trước đây thuộc lọai nặc danh vì lý do nghề nghiệp, hay là những tường trình do nhân viên báo cáo về để “kính tường.”
Gia đình họ Ngô, CIA and the House of Ngo: Covert Action in South Vietnam, 1954-1963 (CIA và Những Điệp Vụ Mật ở Miền Nam, 1954-1963) nói về những hoạt động bên trong để giúp đỡ chính phủ Ngô Đình Diệm, từ ngày ông Diệm về làm thủ tướng cho đến ngày tổng thống Diệm bị hạ sát trong cuộc cách mạng 1 tháng 11-1963.
Gia đình họ Ngô
Qua tài liệu này, lần đầu tiên chúng ta biết được, từ năm 1950 cho đến năm 1956, CIA có hai Sở tình báo ở Sài Gòn: một Sở CIA Saigon Station nằm dưới sự điều khiển thông thường từ bản doanh CIA ở Langley, Virginia; Sở kia, có tên là Saigon Military Mission, làm việc trực tiếp, và chỉ trả lời cho Giám Đốc Trung Ương Tình Báo. Saigon Military Mission, theo Tài Liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers) được giải mật trước đây, do đại tá Edward G. Lansdale chỉ huy. Lansdale đến Sài Gòn tháng 6-1954 với hai nhiệm vụ: huấn luyện những toán tình báo Việt Nam để gài lại ở miền Bắc trước ngày “di cư và tập kết” hết hạn; và, dùng mọi phương tiện ngầm (covert action) để giúp tân thủ tướng Ngô Đình Diệm. Nay, theo tác giả Thomas L. Aherns, chính Giám Đốc CIA Allen Dulles chỉ định đại tá Lansdale cho điệp vụ ở Sài Gòn – và cũng ra lệnh Lansdale làm việc trực tiếp cho ông. Tác giả Ahern viết, CIA có mặt từ năm 1950 để giúp đỡ quân đội Pháp xâm nhập và thu thập tin tức tình báo.
Edward Geary Lansdale Cố Vấn Ngô Đình Nhu
Nhưng từ cuối năm 1953, khi thấy tình hình quân sự nguy ngập của Pháp, Hoa Thịnh Đốn thay đổi nhiệm vụ của CIA Saigon Station: Liên lạc và thu thập tình báo những thành phần quốc gia để lập một chánh thể chống cộng trong trường hợp Hoa Kỳ thay thế Pháp. Cùng lúc Hoa Thịnh Đốn gởi thêm một toán CIA để lo về quân sự, Saigon Military Mission. CIA and the House of Ngo tiết lộ một số chi tiết ly kỳ như, CIA liên lạc và làm thân với ông Ngô Đình Nhu từ năm 1951, rất lâu trước khi Hoa Kỳ liên lạc với ông Diệm. Đầu năm 1954, khi có tin Hoa Kỳ chuẩn bị đề nghị quốc trưởng Bảo Đại và chánh phủ Pháp giải nhiệm hoàng thân Bửu Lộc và thay bằng ông Diệm, thì ông Nhu là người đầu tiên CIA gặp để bàn về liên hệ của Hoa Kỳ đối với thủ tướng tương lai Ngô Đình Diệm.
Liên lạc Ngô Đình Nhu Tháng 4-1954, một nữ nhân viên Mỹ làm việc ở CIA Saigon Station, thông thạo tiếng Pháp, quen biết và liên lạc thân thiện với Bà Ngô Đình Nhu. Từ nữ nhân viên Virginia Spence này, Sở CIA Saigon bắt được nhiều liên lạc với hầu hết những người thân trong gia đình, hoặc thân cận với Nhà Ngô.
Tháng 4-1954, CIA ở Hoa Thịnh Đốn gửi Paul Harwood sang làm cố vấn riêng cho ông Nhu. Tuy là nhân viên CIA, nhưng Harwood đóng vai một nhân viên Bộ Ngoại Giao, làm việc từ Tòa Đại Sứ. Trong hai năm, Hardwood cố vấn là làm việc với ông Nhu để xâm nhập và ảnh hưởng đường lối ngoại giao quân sự của nền đệ nhất VNCH với tổng thống Diệm. Paul Hardwood thân thiện với gia đình ông bà Nhu đến độ ông ta là người đỡ đầu cho Ngô Đình Lệ Thủy, ái nữ của ông bà Nhu.
Từ tài liệu này chúng ta cũng biết thêm, ông bà Nhu được đưa qua thăm viếng Mỹ trước tổng thống Diệm. Để lấy tình cảm và ảnh huởng với ông Nhu, đầu tháng 3-1957 ông bà Nhu được CIA mời qua thăm Hoa Thịnh Đốn. Tuy không có một chức vụ gì chánh thức với chính phủ nhưng ông Nhu được diện kiến tổng thống Dwight Eisenhower, hai Bộ Trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng, và Giám Đốc CIA Allen Dullles. Tài liệu cho biết, với tài ăn nói và sắc diện, bà Nhu gây được nhiều chú ý với các thẩm quyền Mỹ. … “Bà Nhu là một ngôi sao trong dạ tiệc” do CIA khoản đãi. Hai tháng sau chuyến thăm viếng âm thầm của ông bà Nhu, đầu tháng 5-1957, tổng thống Diệm lên đường công du theo lời mời của chánh phủ Hoa Kỳ.
Trong cuộc tranh chấp – rồi sau đó là giao chiến – giữa chánh phủ Diệm và quân phiến loạn Bình Xuyên, CIA biết được hầu hết kế hoạch và khả năng của Bình Xuyên, nhờ một cận thần của Bảy Viễn đang làm việc cho CIA. Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, một đảng chính trị thành lập để hổ trợ chính phủ Diệm, nhận tài chính và cố vấn từ CIA. Nhưng đến đầu năm 1960 thì CIA cắt ngân khoản vì cơ cấu nhân sự không còn hữu hiệu trong công tác tuyên truyền. CIA đã than phiền nhiều lần về những hoạt động của Đảng Cần Lao và hành vi của ông Ngô Đình Cẩn. Nhưng mỗi lần CIA than phiền với ông Nhu về những hoạt động bí mật – đôi khi trái phép – của ông Cẩn, thì ông Nhu “đưa hai tay lên trời” với một thái độ buông xuôi vì ông không thể nào làm gì được.
Ở một tài liệu khác cho biết, khoảng giữa năm 1956, CIA nhận được nguồn tin cho biết ông Cẩn đang bàn kế hoạch để loại trừ Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành và Cố Vấn Ngô Đình Nhu ra khỏi vòng ảnh hưởng ở Dinh Tổng Thống. Qua nhiều trang, chúng ta đọc được sự bất lực của chính phủ Sài Gòn đối với “lãnh chúa” Ngô Đình Cẩn ở miền Trung.
Với hai Sở CIA ở Sài Gòn hoạt động độc lập nhau, báo cáo gửi về cho CIA ở Hoa Thịnh Đốn đôi khi trái ngược: Cố vấn Paul Hardwood thì báo cáo tốt, nhân nhượng cho ông Nhu và có ý chỉ trích ông Diệm; Edward Lansdale ngược lại: bảo vệ ông Diệm và nói xấu ông bà Nhu. Cuối năm 1956, sau khi Lansdale bị triệu hồi về Mỹ, Al Ulmer, Trưởng Vụ Viễn Đông CIA, ra lệnh giải tán những gì còn lại của Saigon Military Mission – và thái độ của Hoa Kỳ cũng bắt đầu thay đổi với chính phủ Ngô Đình Diệm.
Liên lạc đối lập
Đầu năm 1958 Hoa Kỳ cho phép CIA Saigon bắt liên lạc với các đảng chính trị đối lập. Tài liệu nói nhân viên của CIA mua chuộc và thành lập một lực lượng đối lập “ngay sau lưng ông Nhu,” để trong trường hợp phải thay đổi cấp lãnh đạo mới. Cuộc đảo chánh 11 tháng 11-1960 là một “hăm dọa” của Hoa Kỳ đối với tổng thống Diệm: Nhân viên CIA có mặt ở tại bộ chỉ huy của đại tá Nguyễn Chánh Thi và kế bên ông Hoàng Cơ Thụy để giới hạn bước tiến của quân đảo chính – điệp viên Russ Miller khuyên đại tá Thi nên thượng lượng với ông Diệm, trong khi biết rõ quân ủng hộ chính phủ của đại tá Trần Thiện Khiêm đang trên đường từ Vùng IV về thủ đô tiếp cứu. Khi thấy thái độ trở mặt của CIA, lưới tình báo của ông Nhu cũng không hoàn toàn thụ động: Phó Sở CIA Saigon, Douglas Blaufarb, ngỡ ngàng khi ông khám phá ra người tài xế Việt Nam của ông không bị điếc như lúc được giới thiệu vào làm việc (do Trần Kim Tuyến giới thiệu); người tài xế không điếc mà còn thông thạo hai ngoại ngữ Anh và Pháp!
Tài liệu thú nhận vào năm sau cùng của Nhà Ngô, Hoa Kỳ có một phần lớn trách nhiệm trong kế hoạch hạ bệ tổng thống Diệm. Nhưng chính gia đình ông Diệm cũng hủy hoại, vì sự chia rẽ từ anh em trong nhà. Từ mùa xuân năm 1963 ông Nhu yêu cầu CIA đừng nói lại những gì ông và CIA trao đổi. Và qua nhiều lần nói chuyện với CIA, ông Nhu tuyên bố ông muốn thay tổng thống Diệm! Trong khi đó bà Nhu thì thường làm hùng làm hổ với tổng thống Diệm: trong cuộc bầu cử Hạ Viện năm 1963, bà Nhu muốn ủng hộ 30 ứng cử viên mà ba ta ưng ý. Ông Diệm không đồng ý, nhưng bà Nhu “cằn nhằn, to tiếng” cho đến khi tổng thống Diệm nhượng bộ. Bà Nhu cũng thắng thêm một lần nữa, khi đòi làm người chủ tọa và đọc diễn văn ngày Lễ Hai Bà Trưng – thay phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ như ông Diệm đã chỉ định. Riêng về ông Ngô Đình Cẩn: ông Cẩn từ chối không ủng hộ hay giúp ông Nhu về Chương Trình Ấp Chiến Lược ở Miền Trung. Ngày Lễ Quốc Khánh Hoa Kỳ, 4 tháng 7-1963, lần đầu tiên tổng thống Diệm cho phép các tướng lĩnh VNCH tham dự tiệc ăn mừng do tòa đại sứ tổ chức. Sau tiệc rượu ở khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ, một vài tướng lĩnh VNCH và nhân viên CIA kéo nhau ra quán để uống nữa. Tại quán rượu, tướng Trần Văn Đôn nói với nhân viên CIA là các tướng muốn đảo chính tổng thống Diệm. Thảm kịch của Nhà Ngô bắt đầu từ đó.
Các tướng lĩnh miền Nam
Tài liệu thứ hai, CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam (CIA và Các Tướng Lĩnh: Những Hỗ Trợ Ngầm Cho Chính Phủ Quân Sự Việt Nam Cộng Hòa), cũng tương đối “tối mật” so với những tài liệu được CIA công bố trước đây. Tài liệu trong CIA & Generals bắt đầu sau cuộc đảo chính 1 tháng 11-1963. Những gì đến từ tài liệu cho thấy ngay sau đảo chính, như một tập thể, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không được hòa thuận; và, như những liên hệ cá nhân, các tướng đã nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau trước khi đảo chính.
Trước khi đảo chính, tướng Nguyễn Khánh đã nói xấu về hai tướng Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm với tổng thống Diệm và một số nhân viên CIA. Qua nhiều chi tiết, chúng ta thấy các tướng làm việc chung vì phải tựa vào nhau để mưu cầu lợi quyền lợi riêng, chứ không thật sự có chung một lý tưởng. Trước ngày tướng Khánh “chỉnh lý” tướng Minh và bốn tướng Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, và Trần Văn Đôn, tướng Khánh thường xuyên rỉ tai với CIA về tin đồn những tướng nói trên sẽ theo Pháp để biến Việt Nam thành trung lập.
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng
Tháng 2-1964 tướng Nguyễn Văn Thiệu đã đưa nhiều sĩ quan thuộc Đảng Đại Việt nằm vào những chức vụ quan trọng trong quân đội. Khi được hỏi để làm gì, tướng Thiệu trả lời để triệt hạ cộng sản và những thành phần thân cộng. Nhưng CIA có nguồn tin cho biết ông Thiệu sẽ dùng sĩ quan Đại Việt để đảo chính ông Khánh. Và chuyện xảy ra đúng như vậy.
Tướng Khánh rất ngây thơ khi “hù” tướng Thiệu là Mỹ sẽ “chơi” ông. Nhưng, như chúng ta đã thấy, Mỹ chơi ông Khánh trước ông Thiệu!
Chân dung một số vị tướng
Những chi tiết được giải mật trong CIA & Generals: Trong các tướng VNCH, CIA kính trọng kiến thức của tướng Lê Văn Kim nhất. Trong một buổi thuyết trình về các kế hoạch “kín” đang thực hiện trên đất Bắc, trong khi mặt tướng Dương Văn Minh “ngớ” ra với những chi tiết tình báo quân sự, tướng Kim lấy được sự kính trọng của tình báo Hoa Kỳ với những câu hỏi rất chuyên nghiệp.Tướng Nguyễn Đức Thắng được người Mỹ kính nể. Trong một báo cáo, Giám Đốc CIA Richard Helms đề nghị cho tướng Thắng cùng một lúc giữ hai Bộ Quốc Phòng và Xây Dựng Nông Thôn,với tất cả cơ cấu và cố vấn Hoa Kỳ “nằm dưới quyền thống thuộc của tướng Thắng.”
Về tướng Nguyễn Ngọc Loan, mặc dù người Mỹ không thích tướng Loan vì sự thẳng thắn của ông, nhưng họ nhận định tướng Nguyễn Ngọc Loan là một người thật thà, can đảm, biết được ẩn ý của người Mỹ. Tướng Loan không sợ khi nói thật ý nghĩ của ông với tình báo Mỹ. Đầu năm 1967, khi biết được Hoa Kỳ đang đi sau lưng chính phủ VNCH, liên lạc với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, ông Loan nói với CIA là người Mỹ từ đây sẽ đi sau lưng người quốc gia … và sau cùng người Mỹ sẽ bỏ đi, chỉ còn VNCH một mình đơn thân chống lại Bắc Việt.
Cuối năm 1966 Hoa Kỳ có ý định “bắt liên lạc” với một vài nhân sự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Lý luận của CIA là họ muốn xâm nhập vào nội bộ để gây chia rẽ giữa cấp lãnh đạo MTGPMN và Hà Nội. Muốn lấy lòng tin của MTGPMN, CIA xin chính phủ VNCH phóng thích vài nhân sự quan trọng của MTGPMN đang bị Cảnh Sát Quốc Gia VNCH giam giữ, trong đó có vợ của Trần Bạch Đằng (bà Mai Thị Vàng) và Trần Bửu Kiếm (bà Phạm Thị Yến), và một số cán bộ giao liên. Ban đầu VNCH phản đối, nhưng sau cùng vì áp lực cũng phải cộng tác với Hoa Kỳ trong kế hoạch liên lạc với MTGPNM. Từ tháng 2-1967 cho đến tháng -1968, VNCH thả bà Vàng và bà Yến, cộng thêm 10 cán bộ giao liên phía bên kia. Đổi lại, phía MTGPMN chỉ thả ba tù binh Hoa Kỳ. Nhưng từ đó VNCH – nhất là tướng Nguyễn Ngọc Loan – thấy Hoa Kỳ sẵn sàng “xé lẻ” nếu tình thế phù hợp với đường lối ngoại giao của họ.
Qua các tài liệu giải mật sau này, chúng ta thấy CIA có một hồ sơ rất chi tiết về nhân sự và cơ cấu của MTGPMN. Thêm vào đó, CIA cũng có luôn những báo cáo của Chánh Phủ Lâm Thời Miền Nam Việt Nam (là hậu thân của MTGPMN từ tháng 6-1969) gởi về cho Trung Uơng Cục Miền Nam, cập nhật những diễn tiến ở Hội Đàm Paris 1968-1973.
Nội bộ VNCH
CIA xâm nhập sâu vào cơ cấu hành chính và nhân sự của VNCH trong khoảng 1967-1975, nhất là sau cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng Hòa (1967). Vì kết quả bầu cử phải được Hạ Viện VNCH chứng nhận hợp pháp – nhất là một cuộc bầu cử mà hai ứng viên cùng chung liên danh (Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ), đã cấu xé nhau trước khi ngồi lại với nhau, và hầu hết liên danh thất cử nào cũng phản đối kết quả – Hoa Kỳ chỉ thị cho CIA phải tìm mọi cách bảo đảm Hạ Viện sẽ chứng nhận kết qủa bầu cử. Hạ viện bỏ phiếu thuận 58 trên 43, xác nhận liên danh Thiệu-Kỳ đắc cử.
Tài liệu trong CIA & Generals nói tình báo Mỹ đã khuynh đảo một số dân biểu trong hai bầu cử tổng thống 1967 và 1971 (và bầu cử Quốc hội của năm 1970). CIA mua chuộc được 10 dân biểu, “nhưng muốn có thêm 10 tiếng nói” ủng hộ nữa, để chắc ăn về những dự luật đang nghị luận! Tài liệu cho biết CIA đã tốn bao nhiêu tiền để thành lập hay giúp đỡ các đảng phái chính trị với hy vọng các lực lượng này sẽ ủng hộ và xây dựng một thế lực phía sau tổng thống Thiệu. Đảng Mặt Trận Cứu Nguy Dân Tộc, (của thượng nghị sĩ Trần Văn Đôn) được CIA tài trợ với hy vọng trên. Nhưng khi biết được người đứng ra tổ chức là Đặng Đức Khôi – một thân tín của ông Kỳ – ông Thiệu từ chối ủng hộ. Để có một tổ chức riêng, ông Thiệu cho ra đời Lực Lượng Dân Chủ. Sau Đảng Dân Chủ, CIA tài trợ một lực lượng chính trị khác, có tên Đảng Liên Minh Cách Mạng Xã Hội, với hy vọng gom lại tất cả lực lượng chính trị thành một mặt trận chung, dưới sự lãnh đạo chung của tổng thống Thiệu và phó tổng thống Kỳ. Nhưng vấn đề là hai ông Thiệu, Kỳ không còn muốn xuất hiện chung với nhau ngoài công cộng! Sau cùng, với sự nài nỉ của người Mỹ, và vì lợi ích quốc gia, Khối Liên Minh được khai mạc ngày 4 tháng 7-1968, với sự chủ tọa của hai ông Thiệu và Kỳ. Khối Liên Minh tập họp hơn 25 đảng phái chính trị lớn nhỏ ở Miền Nam. CIA tài trợ Đảng này cho đến cuối năm 1969. Tuy nghe theo lời cố vấn của Hoa Kỳ, nhưng tổng thống Thiệu lúc nào cũng nghi ngờ dụng ý của người Mỹ. Ông nói với nhân viên CIA là không những VNCH phải đương đầu với sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào Nam, mà còn phải đương đầu với sự xâm nhập của CIA vào nhân sự của chính phủ!
Những tiết lộ khác trong CIA & Generals: Tình báo của MACV biết rõ ngày giờ Bắc Việt sẽ tấn công qua vùng Phi Quân Sự trong trận tổng công kích Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, nhưng Hoa Kỳ không thông báo cho VNCH, hay tấn công vào các đơn vị Bắc Việt đang tập trung quân. Ngược lại, thái độ của đại tướng Creighton Abrams và đại sứ Bunker rất lạc quan, hai ông tuyên bố – trong cao điểm của cuộc tấn công – là Bắc Việt sẽ mất hết quân sau trận tổng tấn công. Những chi tiết này làm người đọc không khỏi thắc mắc, là có phải Hoa Kỳ đã cố ý để cho cuộc tấn công xảy ra? Chi tiết này làm cho đọc giả nhớ lại câu đối thọai của tổng thống Richard Nixon với Henry Kissinger là “… sau trận này, hai bên phải có một bên hết quân.”
Từ tháng 8-1972, để chuẩn bị cho những thương lượng sau cùng của Kissinger và Lê Đức Thọ ở Paris, CIA được lệnh phải làm hao mòn sức chống đối của tổng thống Thiệu về một số điều khoản trong bản hiệp định (một trong những điều khoản ông Thiệu cực lực phản đối, là Hoa Kỳ đồng ý cho Bắc Việt để lại quân ở Miền Nam, Lào, Cam Bốt). Một số tài liệu giải mật ở giai đoạn này(tháng 8 1972 cho đến lúc ký Hiệp Định Paris, tháng 1-1972) cho thấy CIA có điệp viên nằm trong Trung Ương Cục, qua những tin tức họ nhận được về cuộc nói chuyện giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.
Tuy là tài liệu được giải mật, nhưng một số lớn chi tiết, tên tuổi của những điệp viên, điềm chỉ viên trong sách vẫn còn bị kiểm duyệt. Nhưng nếu độc giả gom những chi tiết trong CIA & Ngo, trong CIA & Generals, và so sánh với một số tài liệu đã được giải mật từ Bộ Ngoại Giao (Foreign Relations of the United States, Vietnam), đọc giả có thể suy luận ai là ai nằm dưới những lằn đen kiểm duyệt.
Tác Giả : Thomas L. Ahern, Jr. / Nguyễn Kỳ Phong lược dịch
Muốn tham khảo hai tác phẩm bằng Anh ngữ, xin mở theo địa chỉ sau:
1. CIA and The Generals: http://www.saigonecho.com/pdfs/CIA_AND_THE_GENERALS.pdf
2. CIA and The House of Ngo (xin chờ khoảng một phút để máy download) http://www.saigonecho.com/pdfs/CIA_AND_THE_HOUSE_OF_NGO.pdf
Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2012
Lỗi thời và vô nhân đạo
ỗi thời và vô nhân đạo
Thứ bảy 22/09/2012 08:00
ANTĐ - Lỗi thời, phi lý, vô nhân đạo và bị cộng đồng quốc tế lên án, chính sách bao vây cấm vận của Mỹ chống Cuba dù gây ra những tổn thất rất nặng nề song vẫn không thể khuất phục người dân trên “hòn đảo tự do”.
Hàng chục nghìn người dân Cuba tham gia một cuộc tuần hành dọc bờ biển để phản đối
chính sách bao vây cấm vận của Mỹ
Phát biểu ngày 20-9 tại buổi giới thiệu báo cáo hàng năm “Sự cần thiết của việc chấm dứt cuộc bao vây kinh tế, thương mại và tài chính của Mỹ chống Cuba”, Ngoại trưởng Cuba Bruno Rodriguez đã lên án và tố cáo mạnh mẽ chính sách lỗi thời và vô nhân đạo của Washington. Theo ông, cuộc bao vây cấm vận hà khắc trong suốt hơn nửa thế kỷ qua đã gây những tổn thất không thể tính được cho nhân dân Cuba, đặc biệt là về y tế và lương thực, trong đó chỉ riêng về kinh tế cũng đã làm thiệt hại hơn 1.000 tỷ USD.
Cuộc bao vây cấm vận đã khiến Cuba gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn lương thực, thuốc men, thiết bị y tế và nguyên liệu sản xuất do buộc phải mua qua nước thứ ba khiến giá thành đội lên rất cao. Bộ trưởng Rodriguez nhấn mạnh, thiệt hại do chính sách bao vây cấm vận gây ra là vô cùng lớn và trở thành một gánh nặng đối với một nền kinh tế nhỏ như Cuba. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân và rào cản sự phát triển kinh tế-xã hội tại Cuba.
Chính sách bao vây cấm vận thù địch của chính quyền Mỹ với Cuba chính thức bắt đầu từ tháng 2-1962 hòng bóp nghẹt cách mạng Cuba. Suốt hơn nửa thể kỷ qua, chính sách vô nhân đạo này không những không giảm bớt mà còn ngày càng hà khắc hơn. Một trong những bước “leo thang tàn bạo” này là Luật Helms-Burton ra đời tháng 3-1996 nhằm thắt chặt các biện pháp cấm vận đơn phương của Mỹ chống Cuba.
Theo luật được 2 ông nghị Jesse Helms và Dan Burton chống Cuba bảo trợ này, không chỉ có các công ty Mỹ mà bất kỳ giám đốc công ty nào trên thế giới làm ăn với Cuba cũng không được phép vào lãnh thổ Mỹ. Chính phủ Mỹ còn ép buộc chính quyền các nước thuộc khu vực Mỹ Latin và các nước thuộc khối NATO thi hành các biện pháp thắt chặt cấm vận chống Cuba, thậm chí đe dọa trừng phạt “bất kỳ nước nào” có quan hệ thương mại và trợ giúp Cuba.
Chính quyền Tổng thống Barack Obama sau khi lên cầm quyền đầu năm 2009 dù có một số nới lỏng song chính sách bao vây cấm vận Cuba vẫn cơ bản không thay đổi, tiếp tục gây ra những thiệt hại lớn cho người dân nước này. Kể từ khi Tổng thống Obama lên nắm quyền, số tiền mà các công ty nước ngoài phải nộp phạt vì vi phạm luật bao vây cấm vận đã lên tới gần 2,3 tỷ USD, trong đó chỉ riêng từ đầu năm 2012 đến nay con số này đã là 622 triệu USD.
Cuộc bao vây cấm vận của Mỹ chống Cuba - một cuộc cấm vận toàn diện, phi lý, dài nhất và vô nhân đạo nhất trong lịch sử mà Washington áp đặt với một đất nước có chủ quyền - đã bị tuyệt đại đa số quốc gia trên thế giới phản đối, lên án mạnh mẽ. Trong cuộc bỏ phiếu tại Đại hội đồng LHQ khoá 66 đòi huỷ bỏ chính sách bao vây cấm vận của Mỹ chống Cuba, 186 nước đã bỏ phiếu thuận, chỉ duy nhất có Mỹ và Israel bỏ phiếu chống.
Bất chấp toan tính bóp nghẹt của cuộc bao vây cấm vận phi lý và vô nhân đạo, cách mạng Cuba vẫn hiên ngang, vững vàng trên “hòn đảo tự do”. Đất nước và người dân Cuba đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, đặc biệt là về y tế, giáo dục.
Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2012
Thứ Năm, 21 tháng 6, 2012
NHững Quan niệm và học Thuyết mới về vũ trụ
hững Quan Niệm và Học Thuyết Mới về Vũ Trụ
Sunday, 17 June 2012 10:25
Trần Hồng Văn
Vào thế kỷ thứ nhì, Ptolemy, một nhà thiên văn học và địa chất học khẳng định vũ trụ là một công trình bất biến và hoàn thiện của thượng đế. Ông vẽ ra một mô hình trong đó trái đất không di chuyển mà nằm ở chính giữa, bầu trời là một khối hỗn độn quay chung quanh trung tâm tạo dựng của thượng đế tức là con người vậy.
Quan niệm của Ptolemy được duy trì suốt 1400 năm sau. Khi việc nghiên cứu về hành tinh và vũ trụ ngày một tinh vi và chính xác hơn thì giả thuyết trên ngày càng không đứng vững. Năm 1543, một tu sĩ Hoà Lan tên là Nicolas Copernicus đưa ra một mô hình mới thay thế cho vũ trụ của Ptolemy. Thay vì cho trái đất là trung tâm của vũ trụ, ông lại đặt mặt trời làm trung tâm của thái dương hệ. Năm mươi năm sau đó giả thuyết của Ptolemy hoàn toàn không còn được chấp nhận khi khám phá mới của nhà thiên văn học Đức Johannes Kepler được công bố vào năm 1609. Kepler tìm thấy các hành tinh quay quanh mặt trời trên một quỹ đạo hình bầu dục, tức là thái dương hệ. Cho mãi tới đầu thế kỷ 20 người ta khám phá ra giải ngân hà Milky Way với hàng tỉ ngôi sao mà trong đó mặt trời chỉ là một. Vào lúc này, người ta tin là vũ trụ chỉ có như vậy mà thôi, nó bao gồm 200 tỉ ngôi sao nằm trong một vòm có đường kính dài 100,000 năm ánh sáng. Tuy vậy vài thập niên sau các nhà thiên văn học lại bối rối khi nhìn thấy những chòm sáng hình xoắn ốc hiện ra trong những đêm trong sáng, những chòm sáng này không thể giải thích đơn thuần do một ngôi sao tạo ra được. Rồi những cuộc bàn cãi sôi nổi kéo dài trong suốt nhiều năm về những đám mây kỳ lạ này. Vào năm 1920, nhờ một viễn vọng kính khổng lồ đặt trên đỉnh núi Wilson ở California, Edwin Hubble chứng tỏ những đám mây trên là những "ốc đảo của vũ trụ", nói khác hơn đó là các giải ngân hà. Và từ đó cho tới nay mọi người mới công nhận là giải ngân hà mà chúng ta đang cư ngụ chỉ là một trong hàng tỉ giải ngân hà khác nằm rải rác trong vũ trụ.
********
Vũ trụ từ đâu mà có? Nó được thành lập như thế nào và chấm dứt ra sao? Trong suốt 60 năm qua, các nhà thiên văn học, vật lý học cũng như vũ trụ học đã thu thập các dữ kiện để tạo ra một mô hình trong đó diễn tả vũ trụ được thành lập, tiến hoá và kết thúc ra sao. Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu vĩ đại nhất của loài người để giải toả những thắc mắc trên các lãnh vực khoa học, triết học và tôn giáo. Áp dụng lý thuyết tương đối của Einstein cùng các định luật căn bản của khoa vật lý học, các nhà khoa học cho là vào khoảng 15 tỉ năm trước, vũ trụ thu gọn ở một điểm thật nhỏ với nhiệt độ, tỉ trọng và hấp lực ở một mức vô cùng. Rồi một sự việc bất chợt xẩy ra, điểm này bật nổ, vũ trụ được phát triển ra mọi phía. Vũ trụ càng bành trướng, nhiệt độ càng giảm. Kể từ lúc khởi đầu, nhiệt độ là 50 tỉ độ F., sau 3 phút, nhiệt độ hạ xuống còn dưới mức một tỉ độ, vật chất được phân bố khắp nơi ngay từ những giây đầu tiên này. Đây là thuyết Big Bang hay một vụ nổ lớn kinh hoàng, một thuyết về sự thành lập vũ trụ nay đã được đa số các nhà nghiên cứu khoa học chấp nhận.
Nếu vũ trụ có bắt đầu thì sẽ có tận cùng không? Nếu có thì sẽ xẩy ra như thế nào? Đây là một đề tài chính cho các nhà thiên văn học ngày nay nghiên cứu và tìm hiểu.
********
Các nhà khoa học đều nhận định là sự tận cùng xẩy ra như thế nào sẽ tùy thuộc vào số vật chất hiện có trong vũ trụ. Nếu số lượng vật chất có đủ hay lớn hơn con số 10-29 gram cho mỗi centimét khối, hấp lực của vũ trụ sẽ ngăn cản việc bành trướng, Các giải ngân hà ngày càng tách nhau xa hơn kể từ lúc mới thành lập, rồi tới một lúc nào đó, sức bành trướng này bị cản trở và ngưng lại và từ từ bị kéo ngược trở lại giống như một cuốn phim quay ngược chiều, bắt đầu chậm rồi nhanh lên dần và sau cùng sẽ trở về nơi khởi điểm, tức là trở về một điểm mà nhiệt độ, tỉ trọng và hấp lực ở mức vô cùng. Đây là một trường hợp.
Trường hợp thứ hai là vũ trụ không có đủ khối lượng và hấp lực không đủ mạnh ngăn cản sức bành trướng, các giải ngân hà tiếp tục tách xa nhau, dần dần các ngôi sao tiêu thụ hết các nguyên liệu tức là chất hydrogen, các giải ngân hà sẽ tối dần rồi dần dần tắt hẳn. Sau hết vũ trụ chỉ là khoảng không đen tối với xác chết của các giải ngân hà.
Trường hợp thứ ba là vũ trụ có đủ khối lượng để làm ngưng sự bành trướng, nhưng hấp lực không đủ mạnh để co rút lại, nó sẽ ở tình trạng đó mãi.
Để đơn giản hoá, các nhà vũ trụ học đã diễn tả tình trạng trên như sau: một vũ trụ trong tương lai bị co rút lại về một điểm được gọi là "khép", một vũ trụ bành trướng mãi mãi được gọi là "mở", và với vũ trụ cân bằng giữa hai tình trạng trên được gọi là "phẳng".
Với lý thuyết là vật chất trong toàn vũ trụ phải có một tỉ trọng bằng hoặc lớn hơn con số 10-29 gram trên một centimét khối để có thể ngăn cản được sự bành trướng, người ta đi tìm con số này. Áp dụng định luật Newton và các định luật, nguyên lý căn bản của khoa vật lý học, người ta đã tính toán để cân đo toàn thể vật chất trong vũ trụ, gồm các ngôi sao, thái dương hệ, các giải ngân hà, bụi bậm, ánh sáng ... Tuy vậy sự tính toán này chỉ đưa đến con số bằng 1/10 tỉ trọng cần thiết mà thôi.
Vật chất mà người ta tính toán, đo lường, nhận thấy được, không đủ để tạo ra được số khối lượng cần thiết cho vũ trụ suy sụp. Các lý thuyết gia lại cho là có số vật chất nhỏ vô cùng màu đen đầy rẫy trong vũ trụ mà cho đến nay người ta không khám phá ra được mới là động lực chính. Vào năm 1960, các nhà khoa học Nga tuyên bố là họ đã tìm được chất này, đó là chất neutrino cực nhỏ. Chất này có thể đi xuyên qua một tấm chì dày hàng ngàn miles mà không bị khám phá ra và chính những neutrino đã đưa toàn thể khối lượng trong vũ trụ vượt quá con số 10-29 gram/ centimét khối để vũ trụ có một "big crunch", nghĩa là sẽ co rút lại và suy sụp hoàn toàn, hay nó ở trong tình trạng "khép" vậy.
Vào những năm 1970, sau khi quan sát hàng trăm giải ngân hà hình xoắn ốc, Vena Rubin và các đồng nghiệp tại viện nghiên cứu Carnegie, Washington, nhận định là phía bên ngoài các giải ngân hà này phải có một khối vật chất quay chung quanh trung tâm với một tốc độ nhanh không kém gì phần bên trong và nếu không có khối này, các ngôi sao phía ngoài bìa các giải ngân hà đó sẽ bị văng vào không gian mất. Hơn nữa, nếu không có khối vật chất này tạo nên các lực lôi kéo, các giải ngân hà sẽ phân bố rải rác khắp toàn bộ vũ trụ chứ không tụ lại thành từng cụm như hiện nay.
Từ những nhận nhận định trên cộng thêm với những nhận xét thực tiễn đưa đến một kết luận hiển nhiên là phần lớn các ngân hà được một lớp vật chất đen rộng lớn bao bọc, loại vật chất này không phát ra ánh sáng hay quang tuyến nên người ta không khám phá ra được nhưng nó tạo ra một sức hút mạnh đủ để giữ các ngôi sao trong giải ngân hà ở vị trí cân bằng, cũng như sức hút này lớn đủ để giữ các giải ngân hà chụ m lại với nhau. Về bản chất của loại vật chất này, hiện nay có hai nhóm đưa ra hai giả thuyết khác nhau: một bên cho là đó chỉ là loại vật chất đã tạo nên những vật chất thông thường như dương điện tử, trung hoà tử (proton và neutron) nhưng người ta chưa khám phá ra được mà thôi. Nhóm kia thì lại lý luận đó là một loại vật chất mới mẻ chưa từng thấy. Đó là các loại hạt nhân mà trong lý thuyết vật lý học thường nói tới từ nhiều năm qua nhưng chưa chứng minh được trong phòng thí nghiệm.
Đối với nhiều nhà thiên văn học, loại vật chất không khám phá ra được này chỉ là một dạng của các vật chất thông thường nhưng ở một dạng rất khó khám phá ra và được cấu tạo ngay từ giây đầu tiên sau vụ nổ kinh hoàng thành lập vũ trụ. Mười phần trăm vật chất ban đầu cấu tạo nên các dạng vật chiếu sáng trong khi 90 phần trăm còn lại còn dưới dạng cực nhỏ màu đen bao bọc chung quanh các giải ngân hà. Ngay tại giải ngân hà Milky Way này, thái dương hệ của chúng ta cùng với hàng tỉ ngôi sao khác chiếu lấp lánh trong vùng đĩa nhưng bao bọc quanh vùng đĩa này là một khối vật chất rộng hàng trăm ngàn năm ánh sáng và không phát ra ánh sáng, không nhìn thấy được và chưa được khám phá ra bằng bất cứ loại dụng cụ hiện đại tối tân nào.
Vài năm gần đây, người ta dồn nhiều nỗ lực vào công cuộc tìm kiếm loại vật chất bí hiểm này. Đầu năm 1996, nhiều nhà thiên văn học phúc trình là thấy nhiều ngôi sao non màu trắng nằm rải rác chung quanh giải ngân hà Milky Way. Những vật chất này được gọi là MACHO (Massive Compact Halo Objects). Những ngôi sao non này có thể là khối lượng vật chất đen bao quanh giải ngân hà tích tụ lại mà ra.
Sau suốt 6 năm tìm kiếm, toán vật lý học Hoa Kỳ và Úc tại trạm quan sát Mount Stromlo gần Canberra đã tìm ra được chứng cớ về những ngôi sao non nằm rải rác tại vùng MACHO này. Trong buổi họp báo tại Úc ngày 19 tháng 8 năm 1998, trưởng toán nghiên cứu Charles Alcock cho biết là họ đã quan sát được khoảng 20 vật thể nằm rải rác trong vùng MACHO. Những vật này có khối lượng bằng nửa khối lượng mặt trời, chiếu sáng trong vòng 80 ngày. Đây là những vật chất đen kết tụ lại và vì một lý do nào đó được chiếu sáng lên. "Đây chỉ là một bước tiến tới việc giải thích một trong những câu hỏi quan trọng nhất của khoa học, đó là vũ trụ làm bởi những loại vật chất gì?", Alcock nói trong buổi họp báo. Tuy vậy, Vera Rubin tại Viện nghiên cứu Carnegie cho rằng bí mật về vật chất đen rất phức tạp mà không một nhà thiên văn học nào chắc chắn về những kết quả đem lại.
Nhưng đây mới chỉ là một phần của câu chuyện về loại vật chất bí mật mà thôi. Lý thuyết mới nhất về vũ trụ học cho rằng loại vật chất màu đen bí mật trong vũ trụ không phải chỉ có khối lượng nhiều gấp 10 lần toàn thể khối lượng vật chất mà người ta cân đo đong đếm và nhìn thấy được mà còn nhiều hơn gấp hàng trăm lần nữa. Các nhà vũ trụ học cũng cho là khối lượng vật chất này có ngay từ giây đầu tiên khi vũ trụ mới thành lập.
Có một điều là cho tới nay người ta chưa xác định được khối vật chất khổng lồ này và những lý luận trên chỉ thuần túy là giả thuyết cũng như còn nhiều nhà thiên văn học không hoàn toàn đồng ý về thuyết cho là vũ trụ trải qua một giai đoạn bành trướng. Nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng nếu loại vật chất bí mật trên có thực thì đó là loại vật chất không giống như bất cứ loại vật chất nào mà ta biết, vì khi vũ trụ bắt đầu thành lập, trận nổ kinh hoàng không biến hoá hoàn chỉnh cho tất cả các dương điện tử (proton) và trung hoà tử (neutron) do đó đưa đến nhiều điều bí mật về loại vật chất này và đây cũng là một thách đố cho các nhà vật lý học hạt nhân hiện nay.
Một loại vật chất hiện nay được coi là một trong những thành phần của khối vật chất bí mật, đó là neutrino và đã được chứng tỏ là có đầy rẫy trong vũ trụ. Các nhà vật lý học tại phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos gần đây có tuyên bố là đã tìm thấy chứng cớ về loại vật chất này, nhưng kết quả còn đợi kiểm chứng. Một số nhà lý thuyết vật lý học nghĩ tới những loại vật chất mới khác đã tạo nên toàn khối đen trong vũ trụ. Ví dụ khi nói tới một lực nguyên tử mạnh mẽ đã giúp nhân nguyên tử duy trì được ở trạng thái bền vững, các nhà vật lý tiên đoán là có sự hiện hữu của axion, một dạng vật chất nhẹ hơn một dương điện tử 100 tỉ lần. Có khoảng hàng tỉ tỉ axion trong mỗi inch khối bao
bọc quanh chúng ta và chính axion đã đóng góp vào thành phần khối vật chật chất đen bí mật trong vũ trụ vậy.
Còn nhiều dạng vật chất khác cũng là thành viên trong khối vật chất trên để tạo ra các lực tương quan trong vũ trụ, như vật chất Z hay Zino, W hay Wino, P hay Photino ... Các chất này được gọi với một tên chung là WIMP (Weakly Interacting Massive Particles). Các nhà vật lý học rất phấn khởi với những giả thuyết trên và nhiều toán nghiên cứu đã thiết kế ra các dụng cụ đặc biệt với hy vọng sẽ khám phá ra được một trong những chất bí mật này. Nếu như đúng như người ta đoán là những vật chất đen này chiếm phần lớn khối lượng trong vũ trụ, việc khám phá ra chúng sẽ chỉ trong tương lai gần cũng giống như việc tìm ra dương điện tử, âm điện tử hay trung hoà tử của một nguyên tử vậy. Có thể các loại vật chất này sẽ khác hẳn với các loại đã thành lập và cấu tạo ra mặt trời, hành tinh hay con người.
Vài chục năm trước, nhà thiên văn học tại Caltech là Fritz Zwicky nhận thấy thiếu một số lớn vật chất ở ngay bên trong cụm các giải ngân hà. Vài chục năm sau, Vera Rubin suy diễn là những giải ngân hà hình xoắn chìm ngập trong một khối vật chất đen vô hình. Người ta hy vọng là trong vài năm nữa, những vật chất vô hình này sẽ được những lý thuyết vật lý mới giải thích rõ ràng cũng như những được những dụng cụ tinh xảo khác phát hiện ra.
********
Với mắt trần, một người có thể nhìn thấy những ngôi sao lấp lánh trên nền trời với một khoảng cách xa hàng trăm có khi hàng ngàn năm ánh sáng trong một đêm trăng sáng. Nhờ chiếc ống nhòm, những vệt sáng mờ ảo ở nơi nào đó trong giải ngân hà Milky Way trở thành những ngôi sao cách xa hàng chục ngàn năm ánh sáng hiện lên rõ rệt. Những viễn vọng kính tối tân nhất hiện nay giúp người ta khám phá ra những quasar xa xăm và nhờ phương pháp quang phổ redshift, người ta cũng thấy chúng ở cách xa chúng ta hàng tỉ năm ánh sáng, nơi rất gần biên giới vũ trụ.
Vào năm 1992, vệ tinh COBE ghi nhận được tiếng vọng của buổi ban đầu khi vũ trụ mới được thành lập. Đó là những luồng quang tuyến với làn sóng ngắn 3 chiều chứa đầy trong vũ trụ. Những luồng quang tuyến cổ xưa này có số tuổi lâu hơn cả những ngôi sao, những vật thể xa xăm nhất mà người ta nhận biết, được ghi là khoảng 300,000 năm sau trận nổ kinh hoàng (Big Bang), tức là khi vũ trụ mới thành lập vào khoảng 15 tỉ năm trước đây.
Nhưng, câu hỏi được đặt ra là trước vụ nổ lớn thì ra sao? Đây là một đề tài lớn đang thách đố các nhà khảo cứu. Nhờ một lý thuyết mới của ngành vật lý gọi là học thuyết vũ trụ học lượng tử (quantum cosmology) các nhà khoa học đang đổ xô đi tìm một giải đáp. Mặc dù không thể có một chứng cớ thực nghiệm nào chứng minh cho học thuyết vũ trụ học lượng tử, thuyết này có một hấp lực lôi cuốn mạnh mẽ các nhà khoa học khiến nó trở thành một trung tâm điểm cho các cuộc nghiên cứu hiện nay. Học thuyết này bắt buộc các nhà khoa học, đôi khi đi ngược lại ý muốn của họ, đó là việc chấp nhận quan niệm có nhiều vũ trụ chạy song song nhau, có những lỗ hổng hay đường hầm trong vũ trụ (wormholes) cũng như không gian 10 chiều. Nhiều nhà vật lý học danh tiếng đã mau chóng chấp nhận lý thuyết trên như Stephen Hawking hay Murray Gell-Mann, người từng đoạt giải thưởng Nobel.
Trước hết, từ trước môn vũ trụ học căn cứ trên thuyết tương đối của Einstein, một lý thuyết về trọng lực. Các nhà vật lý học dùng thuyết này để miêu tả sự bành trướng của vũ trụ, giống như một quả bong bóng được một đứa trẻ thổi, trong đó hàng tỉ tỉ giải ngân hà nằm trên vùng biên giới vũ trụ. Ngược lại, lý thuyết vũ trụ học lượng tử cho rằng vũ trụ chứa đầy những vật thể như âm điện tử, dương điện tử, các quark, và những sợi dây vô hình.
Suốt mấy chục năm qua, như có một cuộc chiến tranh lạnh giữa thuyết tương đối và thuyết lượng tử. Mỗi thuyết phát triển một cách độc lập với nhau. Tuy vậy, cả hai đã đụng độ nhau khi giải thích hiện tượng Big Bang. Khi áp xuất và nhiệt độ ở mức vô cùng làm cho các phân tử bị tự phân tách rời nhau ra, thuyết tương đối trở thành vô hiệu vì không giải thích được thì thuyết lượng tử chiếm phần ưu thế. Ở nhiệt độ 10 32 độ Kelvins, nghĩa là nóng gấp tỉ tỉ lần trung tâm một trái bom nguyên tử khi phát nổ, lúc này thuyết lượng tử vượt trội hẳn thuyết tương đối. Nói cách khác, hiện tượng big bang đã đưa hai thuyết này lại gần nhau, bổ túc cho nhau. Chính sự kết hợp này cũng đã đưa ngành vũ trụ học tiến xa hơn với những thuyết về nhiều vũ trụ và không gian vô cùng ra đời vậy.
Một nguyên tắc của thuyết vũ trụ học lượng tử là ta phải coi vũ trụ như là một phần tử nhỏ bé nhất giống như phần tử đơn giản nhất được coi là âm điện tử (electron). Không bao giờ người ta biết chắc chắn một âm điện tử chiếm hết bao nhiêu năng lượng vì một sự thay đổi về định lượng khiến cho mỗi âm điện tử có những mức năng lượng khác nhau. Nếu coi vũ trụ như một âm điện tử, ta phải kết luận là vũ trụ cũng hiện hữu dưới nhiều trạng thái, ví dụ như có nhiều vũ trụ chạy song song với nhau.
Một ví dụ về hậu quả lượng tử được ví như một nồi nước sôi trong đó những bong bóng nước nhỏ mới được thành lập rồi phình lớn lên mau chóng. Nếu ta coi vũ trụ như một bong bóng nước này thì ta phải chấp nhận là vũ trụ của ta phải đồng thời với bao nhiêu vũ trụ khác nữa hiện hữu trong một biển cả chứa nhiều vũ trụ. Biển cả vô cực này được gọi là đa vũ trụ liên tục tạo nên những vũ trụ mới. Với khuôn mẫu này, nhiều vụ nổ lớn (big bang) xẩy ra, mỗi vụ như vậy tiêu biểu cho một sự thay đổi về lượng tử trong khoảng không vậy.
Việc tạo dựng ra vũ trụ từ khoảng chân không hình như ngược lại với nguyên lý bảo toàn năng lượng. Andrei Linde thuộc đại học Stanford, người đi tiên phong trong thuyết vũ trụ bành trướng, cho rằng những bong bóng này liên tục bị khuấy động và làm vỡ các bong bóng khác. "Nếu tôi và các đồng nghiệp của tôi đúng, chúng tôi sẽ sớm từ bỏ quan niệm cho là vũ trụ của chúng ta chỉ là quả cầu lửa độc nhất tạo dựng do một vụ nổ lớn mà ra", Linde nói như trên.
Lý thuyết mới của môn vũ trụ học cũng tạo nên một vấn đề trong phạm vi tôn giáo. Theo lý thuyết thì nguồn gốc của vũ trụ nằm trong 2 quan niệm: quan niệm của Gia Tô Giáo cho đó là một khoảng có giới hạn hay thuyết sáng tạo, trong khi Phật Giáo lại cho vũ trụ không có giới hạn, trong đó thời gian và không gian không có bắt đầu và không có tận cùng.
Khi nói đến mô hình với hàng triệu vũ trụ được tạo dựng từ khoảng không, Steve Weinberg, một học giả từng đoạt giải thưởng Nobel về vật lý học nói: "Tôi cho đó là một hình ảnh đầy thích thú mà ta cần phải suy nghĩ chín chắn. Điều quan trọng là tất cả đều không có bắt đầu và có nhiều big bang, do đó việc tạo ra vũ trụ tiếp diễn mãi không ngừng. Tôi thấy đó là một mô hình giải thích được mọi vấn đề".
Tuy vậy Weinberg còn cho là không có một đời sống nào ở một vũ trụ khác. Phần lớn đó là những vũ trụ chết và đời sống chỉ kéo dài khoảng dưới 10 tỉ năm, thời gian cần thiết để tạo nên những chất hữu cơ bền, đó là DNA hay đời sống. Những vũ trụ này có đầy rẫy các chất neutrino, quang tử và âm điện tử, nhưng chúng không thể kết hợp với nhau để tạo nên đời sống được. Vũ trụ chúng ta có thể chỉ là một trong vài vũ trụ hiếm hoi có đời sống mà thôi.
Mô hình tạo dựng vũ trụ của thuyết lượng tử có thể giải thích được một số thắc mắc về việc hiện hữu của sinh vật. Từ lâu các nhà vật lý học nhận thấy có sự trùng hợp những hằng số căn bản của vũ trụ nằm trong một phạm trù nhỏ hẹp, đó là đời sống trên trái đất này. Có phải đời sống là một báu vật của vũ trụ không? Giả dụ điện tích (electic charge) hay hằng số trọng lực hơi thay đổi một chút, các phân tử DNA không thể giữ vị thế quân bằng được, như vậy nguyên lý của đời sống phải dựa vào sự hiện hữu của một đấng toàn năng, nói khác đi đó là Thượng Đế. Tuy vậy thuyết vũ trụ học lượng tử giải thích hiện tượng trên một cách rất đơn giản: Có thể có rất nhiều vũ trụ trong đó có rất nhiều hằng số vật lý khác nhau. Chúng ta may mắn được sống trong một vũ trụ thích hợp cho đời sống nẩy nở, vì vậy không phải tình cờ là các hằng số vật lý đều hài hoà với đời sống. Bên cạnh vũ trụ này còn vô số vũ trụ chết khác nữa trong đó các hằng số vật lý không phù hợp cho sự quân bằng của loại phân tử DNA vậy.
Phần lớn vũ trụ đều chết, tuy nhiên có thể có vài vũ trụ giống như vũ trụ này không, và ta có thể tới để thăm viếng chúng được chăng? Tình cờ nào đó, khi đang đi trên đường, ta thấy một khoảng trống trong không gian rồi dẫn ta tới một chiều nào đó của một vũ trụ nào khác như ta thường thấy trong cấc phim the Twilight Zone? Hoặc là một buổi sáng khi thức dậy, ta thấy mình đang ở một thế giới khác, nơi đó hoàn toàn xa lạ với ta?
Đây không phải là chuyện hoàn toàn hoang tưởng. Nhà vật lý học Stephen Hawking cho là vũ trụ này được nối liền với nhiều vũ trụ khác bằng hệ thống chằng chịt những đường nối mà ta không nhận biết được. Mạng lưới nối các vũ trụ với nhau gồm có những lỗ hổng (wormhole), đó là những đường hầm hay cửa ngõ từ đó các vũ trụ có thể thông thương với nhau. Các đường hầm này có hình dáng như thế nào? Các nhà khoa học cho là đó là một khoảng không, không gian rất cong, nói cách khác một tia sáng hướng vào trung tâm sẽ bị bẻ cong rồi đi ngược về phía sau nơi phát ra nguồn sáng đó. Ví dụ nếu bạn đang ở trong đường hầm này, nhìn vào trung tâm, vì không gian cong nên theo nguyên tắc thì bạn sẽ nhìn được gáy bạn.
Kip Thorne, một nhà vật lý học tại Caltech và các cộng sự viên còn cho là đường hầm này là một máy thời gian nữa. Cùng với nhà bác học Nga Igor Novikov, họ lý luận là người đi trong đường hầm này sẽ chịu một lực gia tốc khiến cho con người trẻ lại. Nếu bạn bước vào chiếc máy thời gian này, khi bước ra khỏi chiếc máy, bạn có thể hiện diện ở một thời điểm nào đó trong quá khứ xa xưa hoặc là bạn sẽ thấy cơ thể mình đang ở trong thời thơ ấu vậy.
Mô hình của thuyết vũ trụ học lượng tử có một khuyết điểm quan trọng là khi tính toán mức biến đổi về lượng tử để từ đó tạo ra một vũ trụ mới thì không tìm ra được đáp số, nói một cách khác là thuyết này trở thành vô nghĩa. Nếu kết hợp thuyết tương đối của Einstein với thuyết lượng tử để giải thích hiện tượng trên thì quả là một sự gượng ép. Nhà bác học chiếm giải thưởng Nobel là Wolfgang Pauli đã đưa ra một học thuyết mới để giải thích hiện tượng trên, đó là học thuyết "mọi vật" với lý thuyết về những sợi dây siêu hình. Thuyết này cho rằng vạn vật trong vũ trụ, gồm cả những nguyên tử trong cơ thể chúng ta là những sợi dây cực nhỏ luôn luôn rung động và sự cộng hưởng của những rung động này tạo nên những vật chất cực nhỏ. Vũ trụ là những khúc giao hưởng tuyệt vời với những sợi dây siêu hình luôn luôn rung động này và những định luật về sự hài hòa là những định luật căn bản của khoa vật lý vậy.
Học thuyết về "mọi vật" thích hợp với thuyết tương đối trên khía cạnh rộng lớn và cũng thích hợp với thuyết lượng tử trong phạm trù nhỏ hẹp. Điều đáng ngạc nhiên nhất là học thuyết này thích hợp với một không gian và thời gian 10 chiều. Một sợi dây cực nhỏ (khoảng 100 tỉ tỉ lần nhỏ hơn một dương điện tử, proton) chỉ có thể rung động trong một khoảng không gian và thời gian 10 chiều mà thôi và chỉ vũ trụ có khoảng không gian và thời gian 10 chiều này mới phù hợp được cho cả hai thuyết tương đối và thuyết lượng tử. Nếu vũ trụ có nhiều chiều hơn nữa thì sẽ không bền và bị hủy hoại để lại trở về 10 chiều.
Quan niệm trên lại cho ta một quan niệm mới về thuyết vũ trụ học lượng tử. Một số lý thuyết gia cho rằng những bong bóng vũ trụ đều có một không gian và thời gian 10 chiều nhưng không bền. Sau khi thành lập, vũ trụ của chúng ta tách ra làm hai, một nửa có 4 chiều và nửa kia 6 chiều. Nửa vũ trụ 6 chiều suy sụp khiến nửa vũ trụ 4 chiều bành trướng ra cho tới ngày nay, do đó vũ trụ bành trướng này chỉ là một sản phẩm của một biến cố hãi hùng với việc tách ra làm hai của một vũ trụ 10 chiều mà ra. Những bong bóng vũ trụ có thể hiện hữu với 5,6,7, 8 hay 9 chiều nhưng có lẽ không thích hợp cho đời sống nẩy nở. Khoa vật lý học cho ta biết là với một hệ thái dương bền vững, những nguyên tử, phân tử chỉ hiện hữu và duy trì được trong một vũ trụ 4 chiều mà thôi.
********
Vệ tinh COBE đã khám phá ra những làn sóng ngắn cực nhỏ hầu như đó là sự biến đổi lượng tử ngay sau khi vũ trụ mới thành lập, có thể loài người chúng ta hiện nay là con cháu của những làn sóng này. Những làn sóng cực nhỏ qua sự biến đổi lượng tử ngay từ buổi ban đầu này lớn dần lên qua hàng tỉ năm để tạo thành các giải ngân hà, các ngôi sao, hành tinh hiện nay.
Một giải thuyết khác về sự thành lập vạn vật là khối vật chất đen chiếm một tỉ lệ nhiều hơn 90 phần trăm trong toàn khối vật chất trong vũ trụ. Vài chục năm nữa, hy vọng là người ta sẽ xác định được những loại vật chất bí mật này, lúc đó sẽ kiểm chứng được học thuyết "mọi vật" với lý thuyết về các sợi dây vô hình và học thuyết vũ trụ học lượng tử, và phải chăng chính những quan niệm mới mẻ này sẽ mở ra một trang sử mới cho việc giải thích về các hiện tượng siêu hình, cũng như thế giới hữu hình và thế giới vô hình chăng?
Khi đặt giả thuyết về “nguyên tử “trong những thế kỷ trước, các nhà khoa học tuyệt vọng vì không thể nhìn ra được và đặt rất nhiều nghi ngờ với khái niệm về loại vật chất này. Họ cũng tự hỏi có thể gọi đó là một khái niệm về khoa học hay không. Cho mãi tới năm 1905 nhà bác học Albert Einstein trở lại bênh vực giả thuyết trên khi quan sát chuyển động Brownian, sau đó phải mất thêm 20 năm nữa khi phát minh ra thuyết lượng tử các nhà vật lý học mới giảng nghĩa rõ hơn về nguyên tử và 30 năm sau nữa Erwin Muller lần đầu tiên chứng minh được nguyên tử bằng hình ảnh qua kính hiển vi. Có thể nói hiện nay toàn thể nền kỹ nghệ dựa vào những đặc tính của vật chất nguyên tử.
Cũng vậy, hiện nay một số nhà vật lý không gian cho rằng thành phần cấu tạo của không gian và thời gian cũng đi theo con đường tương tự. Nếu vật chất được cấu tạo bởi nguyên tử thì không gian và thời gian cũng có cùng một cấu trúc, được gọi là “nguyên tử không gian và thời gian”. Nguyên tử của vật chất là những đơn vị nhỏ nhất không thể phân ra được nữa trong thành phần hoá học, trong khi đó các nguyên tử không gian giả định là các đơn vị không gian nhỏ nhất không thể chia thêm nữa. Đơn vị không gian này được cho là 10-35 của một mét, một đơn vị mà không một máy móc tân tiến hiện thời có thể đo được (hiện nay người ta chỉ đo được một khoảng cách nhỏ nhất là 10-18 mét thôi).
Không giống như trước khi một phi thuyền được phóng đi thì người ta phải đếm ngược dần, thời điểm cho vụ nổ lớn khởi đầu cho việc thành lập vũ trụ không có một báo hiệu nào cả. Các nhà vũ trụ học gọi hiện tượng này là hiện tượng Big Bang, khởi đầu từ một điểm thật nhỏ, nơi đó thật nóng và thật đậm đặc và ở một nơi mà không gian và thời gian thật ở mức vô cùng nhỏ. Điểm thật nhỏ này là nơi mà các lý thuyết gia trước kia cho là điểm khởi đầu của thời gian và không gian.
Cho đến nay hầu như các khoa học gia đều đồng ý về thuyết Big Bang, vũ trụ dãn nở rất nhanh cũng như nguội rất nhanh sau vụ nổ này. Các nhà thiên văn học ước tính chỉ 1 giây sau khi nổ, nhiệt độ nơi này lên tới 15 tỉ Kelvins (273.16 K tương đương với 0 độ C hay 32 độ F). Cho tới khi vũ trụ được 38,000 năm, nhiệt độ chỉ còn ở dưới 3,000 K thôi. Vào lúc này, các điện tử kết hợp với các dương điện tử, kết quả là lần đầu tiên ánh sáng di chuyển được mà không bị cản trở. Suốt quãng thời gian 13.7 tỉ năm, từ một điểm thật nhỏ, nó dãn nở ra và nguội dần, trải qua các tiến trình biến hoá và tiến hoá các giải ngân hà, các ngôi sao và hành tinh đưọc thành lập. Với các máy móc hiện đại, cho đến nay người ta vẫn còn nhận ra được những làn vi ba vũ trụ ban đầu này. Tuy vậy, dù quan sát được trạng thái của vũ trụ gần buổi mới thành hình nhưng người ta vẫn chưa hiểu rõ nguyên nhân gây nên vụ nổ Big Bang này.
Suốt vài thập niên qua, các lý thuyết gia về vật lý học bàn cãi rất nhiều về việc giải thích hiện tượng Big Bang, (Xin đọc: Những Quan Niệm và Học Thuyết Mới về Vũ Trụ - phần 1 -Trần Hồng Văn), từ đó các nhà khoa học dựa vào các dữ kiện quan sát được đã tạo ra nhiều mô hình về sự thành lập những vũ trụ. Đó là các lý thuyết như vũ trụ song song, lý thuyết về sự nở phình bất tận trong đó việc dãn nở này tạo ra vô số những vũ trụ bong bóng, giả thuyết về chu trình lập đi lập lại, như là vũ trụ mà chúng ta đang ở được thành lập do hai tấm màng chạy song song rồi tới một lúc chúng đụng phải nhau. Việc đụng chạm này sẽ đưa tới việc thành lập ra vũ trụ, sau đó vũ trụ này sẽ bị suy sụp dần để hai tấm màng trở lại trạng thái lúc đầu và chu trình thành lập vũ trụ mới lại bắt đầu. Giả thuyết khác dựa vào môn vũ trụ học lượng tử giải thích chu trình thành lập vũ trụ qua tiến trình dãn nở, co thắt và suy sụp rồi đưa đến việc tái tạo để thành lập ra vũ trụ mới, như giả thuyết về vòng vũ trụ học lượng tử, lý thuyết về sự thành lập vũ trụ mới kế tiếp ngay sau khi vũ trụ trước suy sụp.
Vũ Trụ
GIẢ THUYẾT VỀ VŨ TRỤ SONG SONG:
Vào năm 1954, Hugh Everett III tại Đại Học Princeton đưa ra một ý tưởng mới lạ: Trong không gian có những vũ trụ song song, giống như vũ trụ chúng ta. Những vũ trụ này là những nhánh hay ngược lại, vũ trụ chúng ta là nhánh cũa những vũ trụ này. Ví dụ tại trái đất này, kết quả của một cuộc chiến tranh lại khác với kết quả cũng cuộc chiến đó tại vũ trụ kia, hay một loài động vật bị tuyệt chủng ở đây nhưng đang phát triển ở vũ trụ khác. Cũng vậy, tại một vũ trụ khác thì loài người đã bị tiêu diệt rồi. Quan niệm mới này được áp dụng rộng rãi vào môn siêu hình học cũng như dùng để giải thích những vấn đề đặt ra trong thuyết vật lý học lượng tử.
Lượng tử là độ nhỏ nhất của vật chất mà khoa học hiện đại khám phá ra được. Khái niệm về lượng tử lần đầu tiên được nhà vật lý học Max Planck đưa ra vào năm 1900 và việc nghiên cứu về vật lý học lượng tử chỉ bắt đầu vào 50 năm sau. Hãy nghĩ đến những vật chất nhỏ nhất, nhỏ hơn cả một nguyên tử, dó là những điện tử. Điện tử quay quanh nhân một nguyên tử theo những chiều quay khác nhau. Hãy tưởng tượng bạn đến một nơi nào đó thăm bạn bè, nhưng đồng thời các vật chất trong các nguyên tử trong cơ thể bạn không theo kịp để đi cùng nên vẫn còn ở nhà. Chuyện này có vẻ khó chấp nhận nhưng nó dựa vào thực tế của khoa học. “Khi bạn quan sát vật gì ở một trạng thái, lý thuyết cho biết là vật đó còn nằm trong vũ trụ khác nữa mà ta chỉ thấy được tại một vũ trụ thôi”, Andrew Cleland tại Đại Học UC Santa Barbara giải thích về giả thuyết nhiều vũ trụ song song. Lý thuyết này cho rằng ta chỉ nhìn thấy có một vũ trụ. Ta thấy một trái banh bị đá tung lên trời, nhưng có thể ở vũ trụ khác thì trái banh đó đã rơi xuống đất rồi hay đồng thời sân banh này ngày hôm đó không có trận đá banh nào trong vũ trụ khác. Khi áp dụng thuyết lượng tử vào việc nghiên cứu các tia bức xạ , nhiều khám phá cho thấy có nhiều định luật về vật lý hoàn toàn trái ngược lại với các định luật cổ điển mà ta thường áp dụng. Những kết quả này cho thấy trong vũ trụ có những định luật khác hẳn với những những định luật mà ta biết.
Vũ trụ song song
Rất nhiều khoa học gia chấp nhận lý thuyết căn bản của thuyết đa vũ trụ mặc dù khó chứng minh được. Trước tiên ta nên hiểu khái niệm về thời gian. Carroll cho rằng ta không cảm được thời gian mà chỉ tiếp nhận được thôi. Ví dụ thời gian đi thật nhanh khi ngồi trên một chiếc xe trượt tuyết nhưng thật chậm trong lớp học buồn chán, thật nhanh khi ta bị trễ đến sở làm nhưng vài phút trước khi hết giờ làm thì lại chậm như kéo dài hàng giờ. Sean Carroll, nhà vật lý học tại Đại học California Institute of Technology nói: “Tuy rằng hiện nay chúng ta chưa hiểu về sự hiện hữu của vũ trụ khác nhưng có thể một nền văn minh tiến bộ của người không gian đã tìm ra. Hãy hy vọng lúc nào đó khoa học làm ra được một chiếc máy có thể liên lạc được với vũ trụ khác”.
Giáo sư Alan Guth tại MIT vào thập niên 1980 đã đưa ra giả thuyết về vũ trụ song song khi dựa vào nhiều quan sát và đã được nhiều đồng nghiệp hưởng ứng. Ông lý luận là khi vũ trụ khởi đầu, thay vì trọng lực hút vào để giữ vật chất gần với nhau thì có một loại trọng lực ngược khác đẩy mọi vật ra theo một khoảng không thật lớn. Các nhà khoa học đã chứng minh là vũ trụ này đang ngày một nở ra. Vẫn theo giáo sư Guth, sau vụ nổ Big Bang khoảng không này bắt đầu biến thái và tạo ra vật chất, các loại vật chất này tương tự như vật chất ban đầu trong vũ trụ chúng ta. Theo giả thuyết này thì vũ trụ lớn hơn những gì ta đoán. Rồi dần dần vật chất bắt đầu biến thể để tạo nên các bong bóng vũ trụ mới. Càng nhiều vật chất biến thể thì càng nhiều bong bóng vũ trụ được thành lập. Những vũ trụ này có cùng những đặc tính và tồn tại cùng dưới những định luật vật lý.
Có hai quan niệm về đặc tính các vũ trụ: (1) Các vũ trụ này có cùng một loại vật chất và bị chi phối dưới các định luật vật lý như vũ trụ của chúng ta. Điều ngoại trừ là tuy chúng chịu chi phối dưới cùng các định luật nhưng có thể có những phối hợp khác nhau; (2) Những vũ trụ này ở dưới những điều kiện khác nên không được điều hành giống như chúng ta, có thể là chúng ở dưới không gian ba chiều hay nhiều chiều. Cả hai quan niệm này đều chấp nhận được. Quan niệm thứ nhất cho ta tin vào giả thuyết vũ trụ song song, với giả thuyết này con người ta có thể tồn tại tại nhiều nơi trong cùng một thời điểm từ đó ta có thể phát minh ra một loại máy đặc biệt du hành tới các vũ trụ kế bên và có thể gặp lại chính mình ở nơi đó.
GIẢ THUYẾT VỀ HIỆN TƯỢNG DÃN NỞ VĨNH VIỄN:
Vào vài thập niên trước, một nhận xét làm các nhà vật lý học không gian ngỡ ngàng: việc dãn nở của vũ trụ này không phải là độc nhất mà có hàng tỉ vũ trụ khác đang hiện hữu, như vậy là không phải chỉ có một vũ trụ trong không gian mà là một tập đoàn đa vũ trụ.
Với máy móc hiện đại, người ta có thể quan sát được vật thể ở khoảng được xa là 42 tỉ năm ánh sáng (chú thích: tốc độ ánh sáng là 299,792,458 mét/giây hay 186,282 miles/một giây), đây có thể là biên giới của vũ trụ này. Xa hơn nữa, có thể có rất nhiều, hay vô tận vũ trụ khác, mỗi vũ trụ khác nhau về việc phân bố vật chất nhưng có thể cùng có chung các quy luật vật lý. Cho đến nay, hầu hết các nhà khoa học vũ trụ đều đồng ý với lý thuyết đa vũ trụ mà nhà vật lý học Max Tegmark tại MIT gọi đó là “giai đoạn 1”. Một số người còn đi xa hơn nữa, họ đưa ra những ý kiến như là các vũ trụ này khác nhau về nguồn gốc, những định luật vật lý và cũng như ở trong những chiều không gian khác nhau mà con người cần nghiên cứu thêm, đó là “giai đoạn 2”
Vào năm 1982, lần đầu tiên nhà lý thuyết vật lý học Alexander Vilenkin tại đại học Tufts, Massachusetts đã đưa ra lý thuyết một vũ trụ nổ bùng ra từ một điểm thật nhỏ trong khoảng không, kết quả là tạo nên một sự biến đổi lượng tử trong vũ trụ. Quan niệm về việc bắt nguồn của vũ trụ từ “một khoảng không gian có gì” làm các nhà vật lý vũ trụ ngỡ ngàng. Nhưng khi nghiên cứu sự hình thành cũng như tiến trình thành lập giải ngân hà Milky Way và thái dương hệ khi mà trái đất trở thành một ốc đảo có loài người sinh sống mới thấy sự ngẫu nhiên trong sự biến đổi là không thể ngờ được.
“ Trong phạm trù nhỏ nhất, thế giới của chúng ta được miêu tả do động lực lượng tử, thời gian và không gian không còn ý nghĩa gì, chúng có thể biến đi hay hiện ra do biến đổi của lượng tử. Tạo nên vật gì từ không có gì là việc bất thường nhưng việc đó vẫn có thể xẩy ra”. Giáo sư Vilenkin tuyên bố như trên. Trong giả thuyết dãn nở vĩnh viễn, ông đưa ra một mô hình là khi tiến trình thành lập vũ trụ xẩy ra rồi thì nó sẽ hiện hữu mãi mãi, tương tự như một chuỗi phản ứng, một vùng không gian này bị suy sụp thì lại bắt đầu tại một vùng khác và số lượng vũ trụ không bao giờ chấm dứt. Trước khi nở ra, toàn thể một vũ trụ chỉ gói ghém trong một vùng nhỏ hàng tỉ lần một dương điện tử. Dưới những điều kiện thích hợp, vùng này sẽ nổ tung ra thành một vũ trụ rộng lớn. Nếu tại một vùng trong vũ trụ mới này thích hợp với các định luật về vật lý học thì sẽ trở thành nơi có đời sống, còn những vùng khác thì hoàn toàn vô sinh.
Không gian đa vũ trụ
Giáo sư môn vũ trụ học Michael Turner tại Đại Học Chicago nói giả thuyết mới về sự dãn nở mãi mãi và vũ trụ được thành lập từ những điểm gói trọn thời gian và không gian là quan niệm rất quan trọng, được kể từ khi Copernicus tuyên bố là trái đất và các hành tinh trong thái dương hệ quay quanh mặt trời. Paul Steinhardt, giáo sư môn lý thuyết học về vũ trụ tại Princeton University tuyên bố: “Một khi việc dãn nở bắt đầu thì sẽ tiếp diễn mãi mãi do những tiến trình về sự biến đổi lượng tử”.
Khái niệm trên hiện nay được các nhà khoa học chú ý nhiều. Chúng ta sống trong một không gian đa vũ trụ dựa vào lý thuyết dãn nở vĩnh viễn này, trong đó các nhà nghiên cứu lập luận là ngay sau hiện tượng Big Bang, không gian và thời gian dãn nở theo tốc độ và các chiều khác nhau do đó sẽ tạo ra những vũ trụ bong bóng, mỗi vũ trụ này sẽ hoạt động theo những định luật vật lý khác biệt nhau. Khái niệm trên hoàn toàn là giả định cho tới ngày nay. Với nghiên cứu mới nhất các nhà khoa học cho rằng nếu có nhiều vũ trụ khác quanh vũ trụ chúng ta thì ắt phải có những đụng chạm và sẽ để lại những dấu vết hay các tia bức xạ. Hiện nay những loại máy móc đặc biệt được thiết kế để khám phá những tia bức xạ, những luồng sóng vi ba do các cuộc đụng chạm gây nên, cũng như một vệ tinh được phóng lên không gian từ năm 2009 (European Space Agency’s Planck Satellite) để quan sát và đo đạc. Hy vọng những dữ kiện tìm được và công bố vào năm 2013 sẽ làm sáng tỏ những thắc mắc và bí mật này.
Với thuyết dây vũ trụ, các bong bóng vũ trụ có thể có những đặc tính khác nhau cũng như sự phân bố vật chất tại mỗi vũ trụ đều khác nhau. Vũ trụ chúng ta đang ở chứa loại vật chất gồm các điện tử và các quarts, chúng tác động lẫn lên nhau qua các lực điện từ, trong khi các vũ trụ khác có thể có các loại vật chất và các lực khác, do đó chúng có những định luật vật lý khác. Toàn thể các định luật áp dụng trong một khu vực nào đó được gọi là một thiết kế (landscape)
GIẢ THUYẾT VỀ CHU TRÌNH THÀNH LẬP VŨ TRỤ:
Vũ trụ được thành lập theo một chu trình được nhà bác học Albert Einstein nói đến từ năm 1930, theo đó ông cho rằng vũ trụ được thành hình theo sau một chuỗi những dao động, mỗi lần bắt đầu bằng một Big Bang, trong một khoảng thời gian vũ trụ sẽ bành trướng và sau cùng kết thúc bằng một sự suy sụp. Tuy vậy, vào năm 1934, giáo sư Richard Tolman tại Đại học California Institute of Technology lại đưa ra một phản bác thuyết trên khi ông cho rằng giả thuyết này không thể đứng vững nguyên do nội chuyển lực trong vũ trụ: theo nguyên lý của nhiệt động học, dưới ảnh hưởng của nội chuyển lực thì vũ trụ trong mô hình này sẽ nóng khủng khiếp, như vậy sẽ không đúng với thực tế.
Qua nhiều năm nghiên cứu, mãi sang đến đầu thế kỷ thứ 21 khi người ta xác định sự hiện hữu đầy rẫy vật chất đen trong vũ trụ, giả thuyết về việc thành lập vũ trụ theo chu trình do Einstein đề xướng mới được công nhận. Vào năm 2011, sau 5 năm theo dõi trên 200,000 giải ngân hà và vũ trụ với khoảng thời gian gần đây là 7 tỉ năm, các nhà khoa học đã xác nhận chính “vật chất đen” là nguyên do cơ bản làm cho vũ trụ bành trướng và ngăn cản việc gia tăng nội chuyển lực, do đó nhiệt không thể tích lũy thêm được.
Giáo Sư Richard Tolman và bác học Albert Einstein (1932)
Dựa vào lý thuyết “dây vật chất” (String theory), Paul J. Steinhardt, giáo sư và giám đốc Trung Tâm Khoa Học Đại Học Princeton, Neil Turner giáo sư môn lý thuyết học vũ trụ tại Ontario, Canada và Neil Turok tại Đại Học Cambridge đã đưa ra một khuôn mẫu gọi là “giả thuyết về việc thành lập vũ trụ theo chu trình”. Hãy coi vũ trụ chúng ta đang cư ngụ theo cái nhìn ba chiều như “một tấm màng” (vũ trụ như một tấm màng), cách vũ trụ ba chiều khác mà ta không nhận biết được bằng một khoảng không gian bốn chiều. Trong mẫu về chu trình thành lập vũ trụ, việc mà các nhà khoa học gọi là hiện tượng Big Bang chỉ là việc đụng chạm của hai “tấm màng vũ trụ” này. “Chúng tôi gọi hiện tượng Big Bang không phải là việc khởi đầu cho thời gian và không gian, nhưng đó chỉ là thời điểm của sự đụng chạm lần cuối”, Steinhardt nói như trên. Theo lý thuyết thì hiện tượng đụng chạm này là vô tận, hay nói khác hơn là khởi đầu cho một chu trình và những lần đụng chạm như vậy cách nhau cả ngàn tỉ năm, như vậy thời điểm mà chúng ta đang sống chỉ chiếm khoảng một phần trăm của chu trình hiện hữu này mà thôi.
Chú Thích về học thuyết “Những sợi dây trong vũ trụ” (String Theory).
Hãy nghĩ về những sợi dây trong cây đàn guitar. Tùy theo sợi dây đó gắn ở đâu cũng như sức căng như thế nào sẽ tạo ra những nốt nhạc. Có thể nói những nốt nhạc là những điệu kích thích của cây đàn guitar dưới sức căng. Tương tự như vậy, học thuyết “những sợi dây trong vũ trụ” cho rằng những phần tử nhỏ nhất (dương điện tử hay trung hoà tử) là những nốt nhạc hay những điệu kích thích của những sợi dây nhỏ nhất trong vũ trụ.
Như khi chơi cây đàn guitar, những sợi dây trong vũ trụ phải được căng mới tạo nên sự kích thích. Tuy những sợi dây này lại không được gắn vào nơi nào mà bay lơ lửng trong không gian nhưng chúng có đặc tính là có lực căng và đây cũng là lý thuyết trong thuyết hấp lực lượng tử, một học thuyết về sự tác động của hấp lực bao gồm các cơ chế lượng tử để giảng nghĩa về “lực”. Lý thuyết này cho phép có nhiều giải thích khác nhau, mỗi lối giải thích có thể là một vũ trụ có nguồn năng lượng và tính chất vật lý khác nhau.
Trong một bài nghiên cứu mới đây (tháng Giêng/2012) giáo sư Craig Hogan tại đại học Chicago, cũng là Giám Đốc trung tâm nghiên cứu Vũ Trụ Vật Lý Học Fermilab nhận định rằng vũ trụ này xù xì náo loạn chứ không phẳng lặng như người ta vẫn nghĩ. Nếu ta quan sát những điểm thật nhỏ trong không gian và thời gian sẽ thấy những xáo trộn, những tiếng động ồn áo dồn dập của tĩnh học. Hogan đang xây dựng một dụng cụ có thể khám phá ra những tiếng động sâu trong vũ trụ. Theo ông, “không gian là một cấu trúc lượng tử và chịu những động lực về lượng tử. Những dao động của lượng tử làm cho những sợi dây lượng tử rung lên. Trong phạm trù một khoảng không gian thật nhỏ, vùng này bị dao động liên tục và điều này cho chúng ta một cái nhìn chính xác về cấu trúc của vũ trụ”. Chính việc khám phá ra lượng tử đã nẩy sinh ra môn vật lý học hạt nhân. Einstein khám phá ra thuyết tương đối khi ngồi trên bàn viết và dùng toán học để suy đoán trong khi môn vật lý học lượng tử lại lấy những thực nghiệm để chứng minh.
Theo như khuôn mẫu về chu trình thành lập vũ trụ thì sự thành lập này là vô tận, nó trải qua những chu trình dãn nở, nguội dần, mỗi lần như vậy lại qua một Big Bang và kết thúc bằng một hiện tượng suy sụp. Hiện tượng Big Bang xẩy ra vào 13.7 tỉ năm trước chỉ là vụ nổ lần cuối nhưng còn nhiều Big Bang khác nữa xẩy ra trong quá khứ và tương lai. Khuôn mẫu này dựa vào 3 khái niệm sau:
- Hiện tượng Big Bang không phải là điểm khởi đầu cho không gian và thời gian mà chỉ là thời điểm mà hấp lực và các dạng của năng lượng được biến đổi thành các dạng vật chất, các tia bức xạ mới cũng như bắt đầu cho một giai đoạn dãn nở và nguội dần mà thôi.
- Hiện tượng Big Bang xẩy ra liên tục và định kỳ trong quá khứ và sẽ tiếp tục trong tương lai. Mỗi chu kỳ như vậy xẩy ra trong khoảng thời gian là 1,000 tỉ năm.
- Vũ trụ mà ta đang quan sát được ngày hôm nay sẽ trải qua một khoảng thời gian thật lâu ở trong giai đoạn suy sụp và co rút lại trước khi đưa đến vụ nổ Big Bang kế tiếp.
Nhắc lại về “Vật Chất Đen”:
Chỉ khoảng 15 năm trước, các nhà khoa học kinh ngạc khi khám phá ra vũ trụ này đang trên đà dãn nở với tốc độ thật nhanh, họ nghi ngờ có một loại vật chất nào đó chưa khám phá ra được là nguyên nhân đưa tới hiện tượng này, và gọi đó là “vật chất đen”. Nếu sức dãn nở này tăng lên mãi, trọng lực phối hợp với vật chất của loại vật chất này sẽ vô hiệu hoá trọng lực của mọi vật, như là sẽ làm tan rã các chùm sao, các giải ngân hà, làm trái đất tách ra khỏi mặt trời … Vào năm 1998, hai toán nghiên cứu khác biệt nhau, một do Giáo sư Brian Schmidt tại Đài Quan Sát Quốc Gia Úc và toán khác do Giáo sư Saul Perlmutter tại Đài Quan Sát Quốc Gia Lawrence Berkeley dẫn đầu đã cùng khám phá là vũ trụ chúng ta đang dãn nở với tốc độ ngày một gia tăng. Sự dãn nở hiện nay khiến các giải ngân hà ngày một tách xa nhau nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng.
Như vậy, “vật chất đen” là gì, câu hỏi này là một đề tài lớn lao cho các nhà nghiên cứu ngày nay. Tất cả những vật mà ta nhận biết được như bụi bặm, ánh sáng, con người, ngôi sao, các giải ngân hà …chỉ chiếm khoảng 4.6 phần trăm tổng số lượng vật chất trong vũ trụ. Còn 95.4 phần trăm kia là gì? Các nhà vũ trụ vật lý học ước tính là 23 phần trăm tổng số được gọi là “vật chất đen” và 72 phần trăm là “năng lượng đen”. Vật chất đen tác động lẫn nhau qua hấp lực chứ không phải lực điện từ, điều này có nghĩa là các nhà nghiên cứu chỉ biết được sự hiện diện của chúng chứ không thể quan sát trực tiếp được. Và chính vật chất đen là động lực đưa đến việc kết thúc của vũ trụ. Ta hãy xét đến 3 trường hợp có thể xẩy ra như thi sĩ Robert Frost đã viết: “Có người nói thế giới này kết thúc trong biển lửa, có người lại cho rằng băng đá sẽ bao trùm vũ trụ”:
- Nếu độ đậm đặc của năng lượng đen giảm dần, vật chất và các tia bức xạ sẽ chiếm ưu thế hơn năng lượng đen sẽ đưa vũ trụ đến tình trạng suy sụp, hấp lực sẽ kéo mọi vật vào một điểm thật nhỏ rồi đưa đến tình trạng Big Bang.
- Nếu năng lượng đen giữ ở tình trạng không đổi khi vũ trụ dãn nở sẽ đưa đến tình trạng băng đá. Các ngôi sao sẽ tắt dần, các giải ngân hà sẽ trôi ra vùng biên giới của vũ trụ, không gian sẽ trống rỗng và lạnh lẽo.
- Trường hợp năng lượng đen tràn ngập, vũ trụ sẽ nở mãi và các giải ngân hà sẽ trôi ra vùng biên giới như trường họp trên, chỉ khác một điểm là năng lượng đen này phá vỡ hấp lực của các vật chất với nhau bằng các lực điện từ trường và các lực khác mạnh mẽ hơn, lúc đó các giải nhân hà sẽ tan rã, các hành tinh sẽ tách rời khỏi mặt trời, các phân tử, nguyên tử sẽ bị phá vỡ, vũ trụ sẽ nở ra vô tận. Theo như tính toán, nếu vũ trụ chúng ta ở trong trường hợp này thì tiến trình trên sẽ xẩy ra vào 90 tỉ năm nữa.
Khuôn mẫu chu trình vũ trụ: Liền ngay sau hiện tượng Big Bang, vật chất đậm đặc, nóng và các tia bức xạ chứa đầy trong vũ trụ mới được thành lập. Nhiệt độ khi đó lên tới 100 tỉ tỉ (1020) lần nhiệt độ tại lõi mặt trời. Dưới nhiệt độ này, vật chất bị phân hoá thành các phần tử như điện
tử, quang tử, vân vân. Chín tỉ năm sau, vũ trụ vẫn còn đang ở trong tình trạng dãn nở và nguội dần, các vật chất cơ bản bắt đầu tụ dần lại thành các dương điện tử và trung hoà tử, rồi các
nguyên tử, phân tử, các hành tinh, các ngôi sao, các giải ngân hà và cấu trúc lớn hơn. Cũng trong khoảng sau 9 tỉ năm này, độ đậm đặc của vật chất trong vũ trụ giảm nhanh và một dạng vật chất khác được thành lập và lan tràn đầy rẫy khắp nơi, đó là “vật chất đen” hay “năng lượng đen”. Đây là một dạng vật chất không giống loại vất chất thông thường và tương tự như một dạng năng lượng hơn. Chính nhờ đặc tính có hấp lực “tự kéo vào” mà nó là động cơ chính ngăn cản cho vũ trụ dãn nở mãi mãi. Mặt khác, “năng lượng đen” còn mang đặc tính “tự đẩy ra” khiến hiện tượng dãn nở của vũ trụ nhanh hơn. Đặc tính này giải thích hiện tượng những ngôi sao thật lớn phát nổ
từ những giải ngân hà thật xa chúng ta mà hiện nay còn để lại những luồng vi ba bức xạ trong vũ trụ, đây là chứng cớ vũ trụ chúng ta đang dãn nở trong suốt 5 tỉ năm nay.
Trong ngàn tỉ năm tới, vũ trụ vẫn dãn nở, vật chất bị phân tán loãng ra và cấu trúc không còn được như ngày nay. Với lý thuyết thông thường thì lúc này vật chất đen giữ vai trò chủ yếu trong toàn thể vũ trụ, chúng biến vũ trụ thành một vùng hoang trống rỗng. Trong mô hình chu trình thì vật chất đen trở thành những chất không bền, bị hư dần để biến thành dạng năng lượng có áp xuất thật cao. Dưới điều kiện này, vũ trụ sẽ từ từ co rút lại, khi đó sẽ nẩy sinh ra hai hậu quả: (1) không gian trở nên thuần nhất và phẳng trong tiến trình co rút, điều này là căn bản cho tiến trình thành lập vũ trụ khác ngay sau khi xẩy ra vụ Big Bang kế tiếp, (2) Vật lý học lượng tử tạo ra những tình trạng thay đổi trong môi trường ở dạng năng lượng có áp xuất thật cao, với những dạng vật chất và tia bức xạ mới chứa đầy tại những vùng khác nhau trong không gian mang lại hậu quả là tốc độ co rút mỗi ngày một lớn.
Màng vũ trụ trong thuyết chu trình vũ trụ: Chính việc khám phá ra học thuyết “dây căng trong vũ trụ” đã làm nẩy sinh ra thuyết chu trình vũ trụ mà quan niệm chính là tấm màng vũ trụ và những không gian nhiều chiều. Theo như học thuyết “dây căng trong vũ trụ” toàn thể vũ trụ ba chiều của chúng ta là một tấm màng nằm trong khoảng không gian bốn chiều và sát bên một vũ trụ ba chiều khác. Cũng theo thuyết dây căng, có sáu không gian nhiều khác hiện diện nhưng chúng chỉ giữ vai trò không quan trọng trong thuyết chu trình vũ trụ. Màng vũ trụ có tính đàn hồi, nó có thể dãn nở, lắc lư, co rút hoặc di chuyển. Các định luật trong học thuyết dây căng bắt buộc vật chất trong màng vũ trụ chỉ di chuyển trong khoảng không gian ba chiều thôi, do đó ta không thể đi qua không gian bốn chiều để có thể nhìn, sờ thấy hay cảm nhận màng vũ trụ kế bên được. Tuy vậy trọng lực và các lực khác có thể kéo hai màng này lại với nhau, hậu quả là những chuỗi đụng chạm liên tục và đều, một trận đụng chạm như vậy là một Big Bang.
Với khuôn mẫu này thì rõ ràng Big Bang không phải là một “Bắt Đầu”. Sự đụng chạm chứng tỏ những màng vũ trụ, nói cách khác là không gian và thời gian, hiện diện trước và sau một Big Bang. Sau trận nổ, những màng bị bắn tung tóe rồi bắt đầu dãn nở trong không gian ba chiều. Vật chất, các tia bức xạ được thành lập, dãn nở, nguội dần và tụ lại với nhau thành những ngôi sao, giải ngân hà … mà ta thấy hôm nay.
Vật chất đen: Đó là một loại năng lượng mà trọng lực của nó có khả năng tạo nên lực kéo hai vũ trụ lại với nhau. Khi những màng này đã dãn ra tới khi mật độ năng lượng vượt quá mật độ vật chất, tốc độ dãn nở của vũ trụ được thúc đẩy, đó là tình trạng mà ta thấy trong vụ trụ ngày nay. Không giống như quan niệm trước đây, giai đoạn dãn nở này không diễn ra mãi mãi mà trái lại, sau khoảng một thời gian là một ngàn tỉ năm, vũ trụ ngưng dãn nở và do lực đàn hồi của vật chất đen, hai màng vũ trụ bị kéo lại gần nhau rồi đụng nhau. Năng lượng động lực học này được biến đổi thành các vật chất và các tia bức xạ mới. Tóm lại, năng lượng trọng lực không những làm cho hai màng vũ trụ đụng vào nhau mà lực đàn hồi của vật chất đen không bao giờ dứt, chúng tạo nên những cuộc đụng chạm giữa các vũ trụ với nhau xẩy ra mãi mãi. Những màng này dãn nở và co rút trong khoảng không gian ba chiều giữa một không gian rộng lớn khác nhiều chiều hơn.
Khuôn mẫu nào thích hợp nhất: Khuôn mẫu về chu trình thành lập vũ trụ và thuyết Big Bang trước kia có những điểm khác nhau về sự biến hoá và tiến hoá của vũ trụ. Trong quan niệm Big Bang, trận nổ là khởi đầu cho thời gian, như vậy vũ trụ của chúng ta đã trải qua 13.7 tỉ năm, thời gian dãn nở để thành lập ra vũ trụ ngày hôm nay. Các nhà khoa học đã khám phá ra vật chất đen, chất này là nguyên do giải thích cho việc dãn nở hiện nay mà không còn nhiệm vụ nào khác. Trong tương lai, chúng tràn lan khắp vũ trụ và sẽ biến vũ trụ thành một khoảng không gian hoang vắng, rộng lớn và vô tận. Trái lại, trong khuôn mẫu về chu trình thành lập vũ trụ thì 13.7 tỉ năm qua chỉ là khoảng thời gian xẩy ra từ trận nổ Big Bang lần cuối và là khoảng thời gian tạo nên vật chất và các tia bức xạ mà ta thấy ngày hôm nay. Việc thành lập vũ trụ là những chu kỳ, lập đi lập lại nhiều lần - trước cả lần này - và có thể là vô tận.
Hai tấm màng vũ trụ đụng nhau sẽ tạo nên những trận bão về vật chất nóng và các luồng quang tuyến. Khi hai tấm màng này phục hồi lại, chúng bắt đầu phát triển theo ba chiều. Đây là giai đoạn vũ trụ dãn nở và nguội dần, vật chất bắt đầu tụ tập lại với nhau để thành lập ra các giải ngân hà hay các cụm giải ngân hà như ta nhìn thấy ngày hôm nay. Độ đậm đặc của năng lượng cao hơn độ đậm đặc của vật chất thúc đẩy vũ trụ bành trướng nhanh, đó là lý do giải thích tình trạng của vũ trụ chúng ta hiện nay. Trong giả thuyết về chu trình thành lập vũ trụ, dần dần vật chất đen (xin đọc những bài khoa học trước giải thích về vật chất đen trong vũ trụ) bị hủy hoại làm cho việc bành trướng chậm lại, sau đó trở thành dẹp và trống rỗng và bắt đầu co rút lại, sau đó hai tấm màng vũ trụ kế nhau bắt đầu tiến gần lại nhau để chuẩn bị cho một chu trình khác, tức là khi chúng đụng nhau sẽ xẩy ra một Big Bang mới. “Chúng ta không nhìn thấy một tấm màng vũ trụ nào khác hay sự đụng chạm của hai tấm màng nhưng hiện giờ ta còn nhìn thấy vật chất nóng và những tia bức xạ, quang tuyến còn đầy rẫy trong vũ trụ”, Steinhardt phát biểu như trên.
GIẢ THUYẾT VỀ VÒNG VŨ TRỤ HỌC LƯỢNG TỬ:
Không phải Steinhardt và Turok là những người duy nhất đề nghị ra một mô hình trong đó vũ trụ phục hồi lại sau khi bị suy sụp. Từ trên một thập niên trước, Martin Bojowald tại Pennsylvania State University đã đề ra một khuôn mẫu về sự phục hồi này, được gọi là Vòng Vũ trụ Học Lượng Tử (Loop Quantum Cosmology-LQC). Lý thuyết này dựa vào thuyết Vòng Trọng Lực Lượng Tử (Loop Quantum Gravity) và là một kết hợp giữa thuyết tương đối - lý thuyết của nhà bác học Einstein đề ra để giải thích về sự tác động của trọng lực, với tác động của lượng tử trong vũ trụ hay lý thuyết về động lực của các vật chất nhỏ hơn cả một nguyên tử. Nói một cách khác, Bojowald dùng lý thuyết về trọng lực lượng tử để giải thích hiện tượng tại một điểm thật nhỏ mà có một trọng lực ở mức vô cùng trong Big Bang. “Theo tôi thì Big Bang chỉ là một giao điểm giữa một vũ trụ trước bị suy sụp và việc thành lập vũ trụ sau mà thôi”.
Chu trình thành lập vũ trụ: Qua giai đoạn dãn nở, co rút lại tại một điểm thật nhỏ, phát nổ rồi dãn nởthành một hay nhiều vũ trụ mới.
Các nhà khoa học đã đưa ra một quan niệm về thuyết Vòng Trọng Lực Lượng Tử (Loop Quantum Gravity) từ năm 1990. Khi cố gắng kết hợp thuyết tương đối với thuyết động lực lượng tử, họ thấy cần có không gian để tạo nên một cấu trúc một chiều “những nguyên tử không gian và thời gian” hay “những nguyên tử không gian”. Theo như Bojowald, thuyết dãn nở của vũ trụ làm thời gian và không gian trải rộng ra. Với không gian và thời gian trong nguyên tử không gian thì sự dãn nở này không liên tục và mỗi khi một nguyên tử không gian được thành lập thì lại có một đột biến về lượng tử. Những nguyên tử không gian này tạo nên những vũ trụ mới trong đó những nguyên tử vật chất thông thường di chuyển. “Nếu không có giả thuyết này thì sẽ không có giới hạn tối đa để năng lượng có thể đè nén tại một nơi nào đó vì đây là trở ngại thông thường của thuyết tương đối”. Bojowald nói như trên. Với thuyết Vòng Trọng Lực Lượng Tử, năng lượng đạt tới mức tối đa khi một vũ trụ bị suy sụp thu nhỏ tại một nơi mà khối lượng lớn gấp 1,000 tỉ lần tại lõi mặt trời và nơi đó không lớn hơn một dương điện tử. Tại nơi này, năng lượng và tỉ trọng đạt tới giới hạn tối đa rồi phát nổ và nở dãn ra để thành vũ trụ mới (Big Bang). Qua gia đoạn nở lớn và thành lập vật chất, vũ trụ lại tiến hành giai đoạn suy sụp khi nó trở nên đậm đặc và nóng, lúc đó các ngôi sao hay các giải ngân hà di chuyển về gần nhau, các nguyên tử lại bắt đầu bị ion hoá và hiện tượng suy sụp xẩy ra trong khoảng hàng tỉ năm nữa. Có thể đó chỉ là một chu kỳ hay nhiều chu kỳ nữa.
Không Gian Đa Vũ Trụ
Kết luận:
Nhà triết học Hy Lạp Aristotle (384-322 B.C.) đã đưa ra một kiểu mẫu vũ trụ như trái đất đứng yên và toàn thể các tinh tú quay chung quanh chúng ta. Sau đó vào thế kỷ thứ hai, nhà thiên văn gốc Hy Lạp khác nhưng sinh sống tại Ai Cập là Claudius Ptolemy sửa lại khuôn mẫu trên khi cho rằng mặt trăng, mặt trời và năm hành tinh khác quay quanh trái đất, còn các vì sao khác được gắn cố định trên một vòm trời hình cầu. Quan niệm trên được mọi người tin tưởng cho mãi tới thế kỷ thứ 17.
Khoảng 100 năm trước đây, các nhà khoa học nghĩ là giải ngân hà Milky Way của chúng ta là toàn thể vũ trụ, gồm một chùm sao bao bọc bởi một khoảng không vô tận. Cho đến nay, khoa học chứng minh là giải ngân hà này chỉ là một trong một quần thể nhiều hơn 400 tỉ giải ngân hà khác quan sát được.
Phần lớn các nhà vật lý vũ trụ học đều dè dặt khi đưa ra các giả thuyết về không gian đa vũ trụ, nhưng họ đều lập luận đó là những tiên đoán dựa trên nền tảng khoa học. Lý thuyết về sự dãn nở miêu tả giai đoạn đầu thành lập vũ trụ, và trong nhiều năm các nhà khoa học tin là vũ trụ khởi đầu bằng sự dãn nở của một khối lửa. Trận nổ lớn bắt đầu cho việc thành hình vũ trụ được gọi là Big Bang. Tuy vậy chỉ vài thập niên gần đây những khuôn mẫu mới về sự tiến hoá và biến hoá của vũ trụ được nói tới, như là vũ trụ ở trong giai đoạn đầu trải qua một sự dãn nở rất nhanh để tạo ra một khoảng không gian trống rỗng, không bền (tình trạng nhiều năng lượng nhưng không có vật chất). Giai đoạn dãn nở không kéo dài lâu nhưng đã có một khoảng không gian rộng lớn. Sau khi giai đoạn dãn nở chấm dứt, vũ trụ trở nên nóng, suy sụp và trở về tình trạng Big Bang. Tuy vậy lúc này Big Bang tạo nên nhiều vũ trụ bong bóng được phình nở lớn ra, đó là không gian đa vũ trụ, và cứ như vậy lập đi lập lại mãi. Sự tiến hoá của vũ trụ như vậy không có bắt đầu và không có tận cùng. Sau mỗi lần nở lớn ra, không gian được chia thành nhiều vùng, tại mỗi vùng đặc tính của vật chất hay chiều không gian và thời gian khác nhau. Như vậy vũ trụ giống như tập họp nhiều vũ trụ trong đó các định luật vật lý học tại mỗi vũ trụ chi phối riêng cho vũ trụ đó.
Những giả thuyết trên đây đã đưa ra nhiều tranh luận được George Ellis, giáo sư Đại Học Cape Town, Nam Phi, tóm lược trong những điểm sau:
1-Không gian không có giới hạn: Không gian trong vũ trụ chúng ta dãn nở tới biên giới là 42 tỉ năm ánh sáng, bên ngoài biên giới này trong khoảng không vô tận kia còn rất nhiều vũ trụ khác mà ta không nhận biết được. Đây là một trở ngại vì ta chỉ suy diễn về điểm còn có nhiều vũ trụ khác chứ không thể nhìn, nhận ra được và không thể chứng minh được kết luận này sai hay đúng. Làm sao biết được những vũ trụ khác có sự phân bố vật chất khác với vũ trụ chúng ta hoặc là khác về hằng số vật lý căn bản, như các lực nguyên tử?
2-Dựa vào môn vật lý học để tiên đoán thế giới khác: Những lý thuyết đồng nhất để tiên đoán sự hiện hữu, giả định một không gian chứa đầy điện hay từ trường. Khoảng không gian như vậy sẽ nở lớn ra, lý thuyết này chỉ áp dụng vào trong vũ trụ của chúng ta trong khi vùng không gian tại các vũ trụ khác thì ta hoàn toàn không hiểu. Có thể các vũ trụ bong bóng đó hiện hữu dưới những điều kiện bị chi phối bởi các định luật vật lý học hoàn toàn khác với chúng ta.
3-Lý thuyết tiên đoán không gian đa vũ trụ trải qua các cuộc thử nghiệm bằng quan sát: Các tia bức xạ từ cõi xa xăm ghi nhận được cho thấy vũ trụ chúng ta đang ở trong thời đại cuối cùng của tình trạng nóng và dãn nở. Điều này chứng tỏ là vũ trụ đã trải qua giai đoạn phình nở lớn ra, nhưng không phải tất cả những loại dãn nở đều có cùng một tiến trình như nhau để tạo nên các bong bóng vũ trụ. Vài nhà vũ trụ học như Steinhardt cho rằng tiến trình phình nở mãi mãi như vậy sẽ tạo nên một loại tia phóng xạ khác hẳn với những tia phóng xạ mà ta ghi nhận được. Ngược lại, giáo sư Andrei Linde và các cộng sự viên tại Đai Học Stanford lại không đồng ý với quan điểm này.
4-Hằng số căn bản thích hợp cho đời sống: Điều đáng ghi nhận nhất là tại vũ trụ chúng ta có những hằng số vật lý có giá trị thích ứng nhất cho những cấu trúc phức tạp, bao gồm cả đời sống. Steven Weinberg, giáo sư môn Vật Lý Học tại Đại Học Texas, người đoạt giải thưởng Nobel Vật Lý năm 1997 và một số nhà nghiên cứu khác cho rằng một dạng đời sống cũng có thể tìm thấy tại một nơi nào đó trong không gian đa vũ trụ. Nhiều nhà nghiên cứu khác lại cho rằng đời sống tùy thuộc vào độ đậm đặc của vật chất đen tại một vũ trụ nào đó, tuy nhiên độ đậm đặc này lên quá cao thì đời sống không thể tồn tại được.
5-Thuyết dây vũ trụ tiên đoán nhiều vũ trụ có những đặc tính khác nhau: Thuyết này thay đổi từ một lý thuyết giảng nghĩa được mọi việc thành lý thuyết mà việc gì cũng có thể giảng nghĩa được. Với quan niệm hiện tại, lý thuyết này cho rằng những đặc tính căn bản trong vũ trụ chúng ta do ngẫu nhiên mà có. Nếu vũ trụ này là vũ trụ độc nhất, những đặc tính đó như không thể giải thích được. Ví dụ như vì sao sự ngẫu nhiên lại có thể tạo ra các điều kiện vật lý thật chính xác với những đặc tính cao độ mà đời sống có thể hiện hữu được? Chỉ trong điều kiện vũ trụ này là một trong hàng tỉ vũ trụ khác thì sự ngẫu nhiên có thể xẩy ra được. Tuy vậy, thuyết dây vũ trụ không phải là một lý thuyết có thể thử nghiệm hay chứng minh được và cũng chưa toàn hảo.
6-Tất cả đều có thể xẩy ra: Trong khi đi tìm câu trả lời tại sao thiên nhiên lại tuân theo một số quy luật này mà không theo quy luật khác, một số nhà vật lý học cho rằng thiên nhiên không chọn lựa, mà một số quy luật có thể áp dụng tại những nơi này mà không áp dụng được tại những nơi khác. Từ ý niệm này mà thuyết lượng tử ra đời. Một sự phân bố hay xắp xếp về một mô hình được hay không thể có được tại một vũ trụ nào đó, tuy vậy không có cách nào có thể kiểm chứng được.
Các nhà khoa học bỏ ra rất nhiều năm để suy nghĩ, lý luận rồi lập ra những giả thuyết trên. Mặc dù cho đến nay những lý thuyết này chưa chắc chắn và chưa được kiểm chứng nhưng cũng đưa đến cho ta nhiều suy nghĩ và làm cho tầm hiểu biết của con người được phong phú. Thật ngạc nhiên khi lý thuyết về không gian đa vũ trụ được chứng minh qua những quan sát gián tiếp, như Anthony Aguirre, Matt Kleban và các nhà khoa học khác quả quyết là những tia bức xạ tại nhiều nơi xa xăm trong vũ trụ còn vương lại là chứng cớ của việc nhiều vũ trụ bong bóng đụng vào nhau. Thuyết dây vũ trụ cũng giải thích không gian nhiều vũ trụ, trong đó mỗi vũ trụ có những đặc tính khác biệt. Cũng giống như vào thập niên 1990, người ta nghi ngờ giả thuyết về một chất đặc biệt hiện diện đầy rẫy trong vũ trụ mà không khám phá ra được, đó là “vật chất đen”. Cho đến nay, các nhà khoa học đã nhìn nhận sự hiện diện của loại vật chất này và công nhận chính nó là nguyên nhân khiến vũ trụ dãn nở và suy sụp.
Dù cho thuyết về đa vũ trụ vẫn còn trong giai đoạn phôi thai, nhưng những thắc mắc trên sẽ được các nhà vật lý học giải đáp trong một tương lai cũng không xa, chúng ta hy vọng như vậy, như một nhà khoa học tuyên bố: “Có thể nói rằng các nhà triết học, vũ trụ học, vật lý học vào đầu thế kỷ thứ 22 sẽ nhìn lại quá khứ mà tiếc cho thế hệ chúng ta ngày nay, vì đã nói đến một không gian đa vũ trụ mà không biết đường tìm ra … “
*Trần Hồng Văn