Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập

Kính chuyển:

Trúc Giang MN – Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập

nhóm Văn Tuyển

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập

1* Mở bài

Tình báo là những hoạt động bí mật của phe địch để dọ thám lấy tin tức về tình hình quân sự, chính trị, kinh tế hoặc tác động, phá hoại.

Gián điệp là người hoạt động tình báo.

2* Gián điệp Cộng Sản trong chiến tranh Việt Nam

alt

alt

alt

Phạm Ngọc Thảo                           Vũ Ngọc Nhạ                     Phạm Xuân Ẩn

Trong chiến tranh, ở miền Nam, ngoài những tên Việt Cộng nằm vùng còn có những tên gián điệp hoạt động tình báo chiến lược xâm nhập vào hầu hết những cơ quan chính quyền, những tổ chức xã hội, tôn giáo, sinh viên, các cơ quan truyền thông, các ngành nghề, quốc hội…

Ngay cả những cơ quan an ninh, phản gián như Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, Tổng nha Cảnh Sát QG, An ninh Quân Đội cũng có thành phần gián điệp Việt Cộng. Đau nhất là bên cạnh Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa cũng có cả một cụm gián điệp giữ những chức vụ quan trọng trong chiến lược chống Cộng Sản Bắc Việt.

Những tên tuổi như: Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy, hoạt động ttrong cụm tình báo A-22 trong Dinh Độc Lập.

3* Vũ Ngọc Nhạ

3.1. Lý lịch

alt

alt

              Vũ Ngọc nhạ                  Vũ Ngọc Nhạ (bìa trái) Phạm Xuân Ẩn (bìa phải)

Vũ Ngọc Nhạ là nhân vật then chốt trong vụ án Cụm Tình Báo A.22 làm rung động chính quyền miền Nam năm 1969.

Tên thật là Vũ Xuân Nhã, sinh ngày 30-3-1928 tại tỉnh Thái Bình. Được kết nạp vào đảng CSVN năm 1947. Vũ Ngọc Nhạ còn nhiều cái tên khác nữa như Pière Vũ Ngọc Nhạ (tên Thánh), Vũ Đình Long (Hai Long) bí danh Lê Quang Kép, Thầy Bốn, “Ông Cố Vấn”.

3.2. Hoạt động

Năm 1955. Xuống tàu di cư vào Nam.

alt

alt

Vũ Ngọc Nhạ xuống tàu di cư (1955)      Thiếu tướng tình báo Vũ Ngọc Nhạ

Vũ Ngọc Nhạ cùng 1 số điệp viên khác trà trộn vào đoàn người di cư vào Nam. Nhạ cùng vợ và con gái xuống tàu Hải Quân Pháp cùng hàng triệu người Công giáo di cư vào Nam.

- Làm thư ký đánh máy ở Bộ Công Chánh. Chinh phục được cảm tình của Linh mục Hoàng Quỳnh và trở thành “Người giúp việc” của Giám mục Lê Hữu Từ.

Năm 1958- Tháng 12 năm 1958, Nhạ bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung của Nguyễn Tư Thái, tự Thái Đen, bắt giữ và giam tại trại Tòa Khâm (Huế) để chờ điều tra xác minh. Linh mục Hoàng Quỳnh can thiệp cho nên Nhạ không bị buộc tội.

3.3. Người Giúp Việc của Đức Cha Lê Hữu Từ

alt

alt

Trùm tình báo Mười Hương – Trần Quốc Hương

Một khuyết điểm lớn của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung là giam giữ những nghi can gián điệp chung với nhau tại trại Tòa Khâm. Chính ở đó, Vũ Ngọc Nhạ đã móc nối với các “cơ sở” (những cá nhân) tình báo khác, đặc biệt là trùm tình báo VC Mười Hương.

Tạo dựng niềm tin đối với Ngô Đình Cẩn.

Năm 1959- Vũ Ngọc Nhạ làm tờ trình “Bốn Nguy Cơ Đe Doạ Chế Độ” được sự chú ý của Ngô Đình Cẩn và sau đó, của ông Nhu, ông Diệm. Do sự dự đoán chính xác về cuộc đảo chánh 11-11-1960 của tướng Nguyễn Chánh Thi, anh em ông Diệm đã chú ý đến Vũ Ngọc Nhạ.

Nhờ danh nghĩa “Người Giúp Việc” của Đức Cha Lê Hữu Từ mà Nhạ được xử dụng như là Người Liên Lạc giữa anh em Họ Ngô và giới Công Giáo di cư. Nhờ đó, Nhạ thu thập được nhiều tin tức tình báo có giá trị. Từ đó, Nhạ có biệt danh là “Ông Cố Vấn”.

3.4. Xây dựng Cụm Tình Báo Chiến Lược A.22

alt

alt

                                                                          Đại tá Lê Hữu Thúy

Sau đảo chánh 1-11-1963, thế lực Công giáo phát triển mạnh dưới tay của Linh mục Hoàng Quỳnh.

Cuối năm 1965, sự tranh giành quyền lực trong “nhóm tướng trẻ”, do sự giới thiệu của LM Hoàng Quỳnh, Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã xử dụng Vũ Ngọc Nhạ trong vai trò liên lạc giữa tướng Thiệu và Khối Công giáo. Nhạ đã khéo léo lợi dụng vai trò đó để tạo ảnh hưởng đến các chính trị gia dân sự và quân sự.

Năm 1967- Sau khi tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng thống, cấp trên nhận thấy cần thiết phải mở rộng mạng lưới tình báo, thành lập Cụm A.22. (A.22 là mật danh của Vũ Ngọc Nhạ) Cụm do Nguyễn Văn Lê làm cụm trưởng, Nhạ làm Cụm Phó trực tiếp phụ trách mạng lưới. Toàn bộ Cụm A.22 được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Đức Trí, chỉ huy phó Tình Báo Quân Sự ở miền Nam.

Bắt đầu, Cụm A.22 “phát triển” thêm Nguyễn Xuân Hoè, Vũ Hữu Ruật đều là những điệp viên mà Nhạ đã bắt liên lạc trong khi bị giam chung tại Tòa Khâm. Sau đó, thu nhận thêm Nguyễn Xuân Đồng và quan trọng nhất là vào đầu năm 1967, bổ sung thêm Lê Hữu Thuý (hay Thắng) mật danh là A.25.

Các điệp viên nầy được giao nhiệm vụ “Chui sâu, leo cao” nắm lấy những chức vụ quan trọng để thu thập thông tin và để tác động vào chính quyền.

Thành công của Cụm A.22 là cài được 1 điệp viên dưới quyền của Lê Hữu Thuý là Huỳnh Văn Trọng làm “Cố Vấn” cho tổng thống Thiệu.

Chính Huỳnh Văn Trọng đã cầm đầu một phái đoàn VNCH sang HK, tiếp xúc, gặp gỡ hàng loạt các tổ chức, các cá nhân trong chính phủ và chính giới HK, để thăm dò thái độ của chính phủ Johnson đối với cuộc chiến ở VN. Huỳnh Văn Trọng thu thập được nhiều tin tức tình báo chiến lược.

4* Vụ án Huỳnh Văn Trọng và 42 điệp báo

4.1. CIA phát hiện cụm tình báo A-22 trong Dinh Độc Lập

alt

alt

CIA nhanh chóng phát hiện điều bất thường là sự tập hợp của các cá nhân là những bị can đã bị bắt giam ở Tòa Khâm.

Giữa năm 1968- Hồ sơ các cựu tù nhân ở Tòa Khâm được mở lại. Do tính phức tạp trong ngành điệp báo, CIA phải mất 1 năm mới hoàn tất hồ sơ và chuyển giao cho Tổng Nha Cảnh Sát QG VNCH.

Vào trung tuần tháng 7 năm 1969, một đơn vị đặc biệt có mật danh là S2/B được thành lập để tiến hành bắt giữ hầu hết những người của Cụm A.22.

Toàn bộ điệp viên Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hoè, Nguyễn Xuân Đồng, Huỳnh Văn Trọng, và hầu hết những gián điệp khác, kể cả giao liên là bà Cả Nhiễm cũng bị bắt.

Riêng cụm trưởng Nguyễn Văn Lê kịp thời trốn thoát.

Cụm tình báo A.22 bị phá vở hoàn toàn.

Chính quyền Saigon rung động vì 42 gián điệp từ cơ quan đầu nảo là Phủ tổng thống cho đến các cơ quan khác, nhất là 1 “Cố vấn” của tổng thống đã bị bắt.

4.2. Biến vụ án gián điệp thành vụ án chính trị

alt

alt

    Bút tích của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu viết cho Vũ Ngọc Nhạ

(…Tôi nhờ anh chuyển lời cám ơn Cha và những người bạn Mỹ đã giúp đỡ chúng ta rất nhiều…)

Đây là vụ án gián điệp lớn nhất lịch sử. Các bị can đều khai, nhất cử nhất động của họ đều là thi hành chỉ thị, là do sự uỷ thác, do lịnh của tổng thống, của các tổng trưởng, nghị sĩ, dân biểu và cả CIA nữa.

Tòa án Quân Sự Mặt Trận Lưu Động Vùng 3 CT bối rối vì không có thể gởi trác đòi những nhân chứng như tổng thống ra hầu tòa để đối chất.

Do không có đủ yếu tố để buộc tội tử hình, cho nên tòa tuyên án:

- Chung thân khổ sai: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Xuân Hoè.

- Án từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai cho những bị can còn lại.

Khi quân cảnh dẫn các tù nhân ra xe bít bùng, thì Vũ Ngọc Nhạ quay sang nhóm ký giả ngoại quốc và thân nhân, nói lớn “Tôi gởi lời thăm ông Thiệu”.

4.3. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng CIA dàn cảnh

Một bất ngờ của vụ án là TT Thiệu không tin đó là sự thật mà cho là CIA đã dàn cảnh. Do đó, thời gian Vũ Ngọc Nhạ bị đày ở Côn Đảo thì TT Thiệu đã triệu hồi viên tỉnh trưởng Côn Sơn về Saigon và thay thế vào đó một người thân tín của mình để có điều kiện chăm sóc cho Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng như là những thượng khách. Vì thế, Vũ Ngọc Nhạ đã đánh giá:”Đó là một cuộc dạo chơi trên Thiên Đàng”.

4.4. Tiếp tục hoạt động

Đầu năm 1973- Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng được đưa về khám Chí Hòa, Saigon. Trong thời gian ở Chí Hòa, nhờ sự giúp đở của LM Hoàng Quỳnh, Vũ Ngọc Nhạ móc nối, bắt bắt liên lạc với nhóm “Thành Phần Thứ 3″ của Dương Văn Minh.

Ngày 23-7-1973- Chính quyền VNCH trao trả Vũ Ngọc Nhạ cho Mặt Trận DTGP/MNVN với danh xưng là “Linh mục Giải Phóng”.

Năm 1974- Vũ Ngọc Nhạ được CSBV phong Trung tá QĐNDVN. Tháng 4, 1974, Vũ Ngọc Nhạ trở về Củ Chi, hoạt động bí mật mục đích xây dựng lại Cụm Tình báo chiến lược, móc nối với Thành phần thứ 3 và khối Công giáo .

Ngày 30-4-1975- Vũ Ngọc Nhạ có mặt tại Dinh Độc Lập bên cạnh tướng Dương Văn Minh.

5* Vũ Ngọc Nhạ bị thất sủng

Ngày 30-4-1975 thân phận của Vũ Ngọc Nhạ vẫn chưa được xác nhận.

Năm 1976- Vũ Ngọc Nhạ được điều về Cục 2 Bộ Quốc Phòng với quân hàm Thượng tá.

Năm 1981- Được thăng Đại tá nhưng vẫn còn ngồi chơi xơi nước. Hàng ngày đọc các tin tức báo cáo, tổng hợp lại rồi trình lên thượng cấp, Phạm Văn Đồng, Mai Chí Thọ, Nguyễn Văn Linh.

Năm 1987- Tác giả Hữu Mai xuất bản cuốn tiểu thuyết “Ông Cố Vấn, Hồ Sơ Một Điệp Viên” ca ngợi thành tích tình báo của Vũ Ngọc Nhạ. Công chúng đã biết đến và Nhạ được phong Thiếu Tướng.

Vũ Ngọc Nhạ mất ngày 7-8-2002 tại Saigon, 75 tuổi. Phần mộ của Nhạ nằm chung với các phần mộ của các điệp viên khác như Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức và Phạm Ngọc Thảo.

6* Gián điệp Phạm Xuân Ẩn

6.1. Thân thế và hoạt động

alt

alt

alt

Phạm Xuân Ẩn sinh ngày 12-9-1927 tại xã Bình Trước, Biên Hòa, là một thiếu tướng tình báo của Quân đội Cộng Sản Bắc Việt.

Từng là nhà báo. Phóng viên cho Reuters, tạp chí Time, New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor.

Theo học trường Collège de Can Tho.

Năm 1948- Tham gia Thanh Niên Tiền Phong và sau đó, làm thơ ký cho hãng dầu lửa Caltex.

Năm 1950- Làm nhân viên Sở Quan Thuế Saigon để thi hành nhiệm vụ là tìm hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự từ Pháp sang VN. Đây là lần đầu tiên làm nhiệm vụ tình báo cùng với 14 ngàn gián điệp được cài cắm vào hoạt động.

Năm 1952- Phạm Xuân Ẩn ra Chiến Khu D và đã được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ủu viên Uỷ Ban Hành Chánh Nam Bộ giao cho nhiệm vụ làm tình báo chiến lược.

Năm 1953- Phạm Xuân Ẩn được Lê Đức Thọ kết nạp vào đảng tại rừng U Minh, Cà Mau.

Năm 1954- Phạm Xuân Ẩn bị gọi nhập ngũ và được trưng dụng ngay vào làm thư ký Phòng Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Tổng Hành Dinh Liên Hiệp Pháp tại Camps Aux Mares (Thành Ô Ma) Tại đây, Ẩn được quen biết với Đại tá Edward Landsdale, trưởng phái bộ đặc biệt của Mỹ (SMM), trên thực tế, Landsdale là người chỉ huy CIA tại Đông Dương. cũng là trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (US.MAAG) tại Saigon.

Năm 1955- Theo đề nghị của Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ, Phạm Xuân Ẩn tham gia soạn thảo tài liệu tham mưu, tổ chức, tác chiến, huấn luyện, hậu cần cho quân đội. Tham gia thành lập cái khung của 6 sư đoàn đầu tiên của QLVNCH, mà nồng cốt là sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp trước đó.

Phạm Xuân Ẩn còn được giao nhiệm vụ hợp tác với Mỹ để chọn lựa những sĩ quan trẻ có triển vọng đưa sang Mỹ đào tạo, trong số đó có Nguyễn Văn Thiệu, sau nầy trở thành tổng thống VNCH.

Năm 1957- Tháng 10 năm 1957, Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương (Mười Hương) chỉ đạo cho Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ du học ngành báo chí để có cơ hội đi khắp nơi, tiếp cận với những nhân vật có quyền lực nhất.

Năm 1959- Phạm Xuân Ẩn về nước, nhờ những mối quan hệ, Ẩn được bác sĩ Trần Kim Tuyến, giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Và Văn Hóa Xã Hội (Thực chất là cơ quan mật vụ của Phủ tổng thống), biệt phái sang làm việc tại Việt Tấn Xã, phụ trách những phóng viên ngoại quốc làm việc ở đó.

Năm 1960- Từ năm 1960 đến giữa 1964, Phạm Xuân Ẩn làm việc cho hảng thông tấn Reuters. Từ 65 đến 67, Ẩn là người Việt duy nhất và chính thức làm việc cho tuần báo Time. Ngoài ra, còn cộng tác với báo The Christian Science Monitor…

Từ 1959 đến 1975- Với cái vỏ bọc là phóng viên, nhờ quan hệ rộng với các sĩ quan cao cấp, với các nhân viên tình báo, an ninh quân đội và với cả CIA , Ẩn đã thu thập được nhiều tin tức quan trọng từ quân đội, cảnh sát và các cơ quan tình báo.

Những tin tức tình báo chiến lược của Ẩn đã được gởi ra Hà Nội thông qua Trung Ương Cục Miền Nam. Tài liệu sống động và tĩ mỉ khiến cho Võ Nguyên Giáp đã reo lên “Chúng ta đang ở trong Phòng Hành Quân của Hoa Kỳ”.

Tổng cộng, Ẩn đã gởi về Hà Nội 498 tài liệu gốc được sao chụp.

Giai Đoạn 1973-1975- Hàng trăm bản văn nguyên bản đã phục vụ “Hạ Quyết Tâm Giải Phóng Miền Nam ” của đảng CSVN.

Phạm Xuân Ẩn là nhân vật được chèo kéo của nhiều cơ quan tình báo, kể cả CIA .

Ngày 30-4-1975, Phạm Xuân Ẩn là một trong những nhà báo chứng kiến cảnh xe tăng của VC hút đỗ cổng Dinh Độc Lâp. Từ đó cho đến vài tháng sau, các phóng viên, đồng bào và cả chính quyền mới cũng chưa biết Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên Cộng sản.

Vợ con của Phạm Xuân Ẩn đã di tản sang Hoa Kỳ. Ẩn cũng được lịnh của cấp trên sang HK để tiếp tục hoạt động tình báo. Nhưng Ẩn đã xin ngưng công tác vì đã hoàn thành nhiệm vụ.

Do kế hoạch thay đổi, cho nên mãi 1 năm sau, vợ con của Ẩn mới có thể quay về VN bằng đường vòng Paris, Moskva, Hà Nội, Saigon.

6.2. Bị thất sủng

Ngày 15-1-1976, trung tá “Trần Văn Trung”, tức Phạm Xuân Ẩn, được phong tặng “Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang”.

Tháng 8 năm 1978, Ẩn ra Hà Nội dự khóa học tập chính trị 10 tháng vì Ẩn “sống quá lâu trong lòng địch”.

Theo Larry Berman thì Ẩn bị nghi kỵ và bị quản chế tại gia. Cấm liên lạc với báo chí ngoại quốc và cấm xuất cảnh, do cách suy nghĩ của Ẩn quá “Mỹ” và do Ẩn đã giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến ra khỏi VN ngày 30-4-1975 .

Năm 1986- Trong 10 năm, luôn luôn có 1 công an làm nhiệm vụ canh gác trước nhà của Phạm Xuân Ẩn.

Năm 1990- Đại tá Phạm Xuân Ẩn được thăng thiếu tướng.

Năm 1997- Chánh phủ VNCS từ chối không cho Ẩn đi Hoa Kỳ để dự hội nghị tại New York mà Ẩn được mời với tư cách là khách mời đặc biệt.

Năm 2002- Phạm Xuân Ẩn về nghỉ hưu.

Con trai lớn của Ẩn là Phạm Xuân Hoàng Ân, đã du học Mỹ, hiện đang làm việc tại Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội. Con gái của Ẩn hiện đang sống ở Hoa Kỳ.

6.3. Ăn năn đã muộn

Trong những năm cuối đời, Phạm Xuân Ẩn cảm thấy rất thất vọng vì dân chúng không được viết tự do. Ẩn trối trăn trước khi chết là, “đừng chôn ông gần những người Cộng Sản”.

Nhận định về Phạm Xuân Ẩn.

Lê Duẩn: Đã biểu dương Phạm Xuân Ẩn coi đó là 1 chiến công có tầm cỡ quốc tế.

Frank Snepp, cựu chuyên viên thẩm vấn CIA , tác giả cuốn sách Decent Interval (Khoảng cách thích đáng) nói:”Phạm Xuân Ẩn đã có được nguồn tin tình báo chiến lược, điều đó rõ ràng, nhựng chưa ai “Dẫn con mèo đi ngược” để thực hiện 1 cuộc xét nghiệm pháp y về các tác hại mà ông đã gây ra, Cơ quan CIA không có gan để làm việc đó.” Hết trích.

Murrray Gart, thông tín viên trưởng của báo Time nói “Thằng chó đẻ ấy, tôi muốn giết nó“.

7* Phạm Ngọc Thảo

7.1. Thân thế

alt

alt

alt

  Đại tá Phạm Ngọc Thảo nói chuyện với các chức sắc Cao Đài

Phạm Ngọc Thảo sanh ngày 14-2-1922 tại Sàigon. Cha ông là Phạm Ngọc Thuần, một địa chủ lớn, có quốc tịch Pháp, người Công giáo. Còn có tên là Albert Thảo hoặc 9 Thảo, vì Thảo là con thứ 8 trong gia đình.

Sau khi đậu tú tài, Thảo ra Hà Nội học và tốt nghiệp kỹ sư công chánh.

Thảo tuyên bố bỏ quốc tịch Pháp và tham gia kháng chiến.

7.2. Hoạt động VC

Sau khi tốt nghiệp trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, Thảo về nhận nhiệm vụ giao liên ở Phú Yên. Một lần, Thảo đưa 1 cán bộ về Nam Bô. Đó Là Lê Duẩn, người đã có ảnh hưởng lớn về hoạt động tình báo của Thảo sau nầy.

Được bổ làm Tiểu đoàn trưởng TĐ 410, quân khu 9. (Có tài liệu nói là TĐ 404 hoặc 307). Trong thời gian nầy, Thảo hướng dẫn chiến tranh du kích cho Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, những người sau nầy trở thành tướng lãnh của QLVNCH.

Vợ là Phạm Thị Nhậm, em ruột giáo sư Phạm Thiều, nguyên đại sứ tại Tiệp Khắc.

7.3. Lợi dụng giám mục Ngô Đình Thục

Sau Hiệp Định Genève, Lê Duẩn chỉ thị cho Phạm Ngọc Thảo không được tập kết ra Bắc phải ở lại nằm vùng.

Từ đó, Thảo dạy học ở một số tư thục Saigon.

Phạm Ngọc Thảo đã bị Đại tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, lùng bắt nhiều lần nhưng đều trốn thoát. Sau cùng, Thảo về Vĩnh Long làm nghề dạy học. Tỉnh nầy thuộc địa phận của Giám mục Phêrô Ngô Đình Thục, vốn đã quen biết với gia đình Thảo từ trước. Ngô Đình Thục coi Phạm Ngọc Thảo như con nuôi và bảo lãnh cho vào dạy học ở trường Nguyễn Trường Tộ.

Năm 1956- Phạm Ngọc Thảo được phép đưa vợ con về Saigon và vào làm việc ở Ngân Hàng QG. Rồi được chuyển ngạch sang quân đội với cấp bậc Đại uý “Đồng Hóa”.

Năm 1956- Do sự giới thiệu của Huỳnh Văn Lang, Tổng Giám đốc Viện Hối Đoái, Bí thư Liên Kỳ Bộ của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa Nhân Vị ở Vĩnh Long. Và Thảo đã gia nhập đảng Cần Lao.

7.4. Lặn sâu trèo cao

Hoạt động trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa:

- Chức vụ Tỉnh Đoàn Trưởng Bảo An Vĩnh Long.

- Tuyên Huấn đảng Cần Lao Nhân Vị.

Thảo biết cách khai thác nghề viết báo của mình vào Binh pháp Tôn Tử. Chỉ trong vòng một năm, Thảo đã viết 20 bài báo nói về chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo. Những bài báo được giới quân sự chú ý và cả TT Diệm và Ngô Đình Nhu.

Năm 1957- Phạm Ngọc Thảo được chuyển về Phòng Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng thống với cấp bậc thiếu tá. Sau đó, giữ chức Tỉnh Đoàn trưởng Bảo An Bình Dương.

Năm 1960- Phạm Ngọc Thảo tham dự khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Đà Lạt. Giữ chức vụ Thanh Tra Khu Trù Mật.

Năm 1961- Phạm Ngọc Thảo được thăng trung tá, giữ chức Tỉnh trưởng Kiến Hòa để trắc nghiệm chương trình bình định. Thời gian nầy, Kiến Hòa (Bến Tre) trở nên ổn định không còn phục kích hay phá hoại nữa.

Tuy nhiên có nhiều tố cáo Thảo là Cộng sản nằm vùng. Thảo bị ngưng chức tỉnh trưởng Kiến Hòa và đi học khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Hoa Kỳ.

Lý do là, Thảo đã thả hơn 2000 tù nhân đã bị giam giữ và liên lạc với bà Nguyễn Thị Định.

8* Phạm Ngọc Thảo tham gia các cuộc đảo chánh

8.1. Đảo chánh lần thứ nhất, 1963

Tháng 9 năm 1963, bác sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị (Thực chất là trùm mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu 1 cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm.

Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân Đoàn 3, Quân Đoàn 4, Biệt Động Quân, Bảo An sẵn sàng tham gia. Nhưng âm mưu bị nghi ngờ. Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm Tổng Lãnh Sự ở Ai Cập, nhưng đã xin tỵ nạn chính trị ở Hồng Kông.

Sau ngày đảo chánh 1-11-1963, Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đỗ. Phạm Ngọc Thảo thăng chức Đại tá làm Tuỳ Viên báo chí trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Một thời gian sau, được cử làm Tuỳ viên Văn hóa tại Tòa đại sứ VNCH ở Hoa Kỳ.

8.2. Đảo chánh lần thứ hai năm 1965

Đầu năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì Nguyễn Khánh muốn bắt Thảo. Vì thế, khi về đến phi trường Tân Sơn Nhất, Thảo đào nhiệm, bỏ trốn và bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập để tổ chức đảo chánh.

Đảo chánh với lý do rất quan trọng mà Thảo nắm được là Nguyễn Khánh và Hoa Kỳ thỏa thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào ngày 20-2-1965 . Vì vậy phải đảo chánh lật Nguyễn Khánh vào ngày 19-2-1965 .

Ngày 19-2-1965. Phạm Ngọc Thảo và Tướng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Saigon, bến Bạch Đằng và phi trường Tân Sơn Nhất. Tướng Nguyễn Khánh đào thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu.

Ngày 20-2-1965. Hội Đồng các tướng lãnh họp tại Biên Hòa các tướng cử Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống lại đảo chánh. Nguyễn Chánh Thi ra lịnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát và 13 sĩ quan khác phải ra trình diện trong 24 giờ.

Ngày 21-2-1965, các tướng tiếp tục họp tại Biên Hòa quyết định giải nhiệm Nguyễn Khánh và cử tướng Trần Văn Minh làm Tổng Tư Lệnh QLVNCH.

Ngày 22-2-1965, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu ký sắc lịnh bổ nhiệm tướng Nguyễn Khánh làm Đại sứ lưu động. (Một hình thức trục xuất ra khỏi nước)

Ngày 25-2-1965: Nguyễn Khánh rời Việt Nam. Phạm Ngọc Thảo bỏ trốn.

8.3. Bị bắt và qua đời

Ngày 11-6-1965, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát tuyên bố trả quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Quân đội.

Ngày 14-6-1965, Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia được thành lập do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch.

Phạm Ngọc Thảo phải rút vào hoạt động bí mật. Thảo cho xuất bản tờ báo Việt Tiến mỗi ngày phát hành 50,000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước chống Mỹ và Thiệu.

Phạm Ngọc Thảo có 1 hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các Xứ Đạo Biên Hòa, Hố Nai, Thủ Đức, Saigon. Có nhiều linh mục giúp đở in ấn và phát hành. Chính quyền Thiệu-Kỳ kết án tử hình và treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được Thảo.

Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) kể lại“Tôi thấy Thảo gặp khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu, nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chánh để ngăn chận việc đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam”. (Võ Văn Kiệt)

Lâm Văn Phát ra trình diện và chỉ bị cách chức.

Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng bị bắt tại Đan Viện Phước Lý, xã Vĩnh Thanh, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa.

Lúc 3 giờ sáng ngày 16-7-1965, Thảo vừa ra khỏi Đan Viện Phước Lý thì bị An ninh Quân Đội phục kích bắt và đưa về 1 con suối nhỏ gần Biên Hòa để thủ tiêu. Tuy nhiên, Thảo không chết, chỉ bị ngất xĩu vì đạn trúng vào càm. Khi tĩnh dậy, Thảo lê lết về một nhà thờ và được Linh mục Cường, Cha Tuyên Uý của Dòng Nữ Tu Đa Minh cứu chữa.

Và Thảo bị phát giác, bị đưa về Cục An Ninh QĐ đường Nguyễn Bĩnh Khiêm. Thảo bị tra tấn cho đến chết vào đêm 17-7-1965. 43 tuổi.

Theo Larry Berman trong cuốn ”The Perfect Spy” thì TT Thiệu ra lịnh tra tấn và hành hạ Thảo cho thật đau đớn bằng cách dùng 1 cái thòng lọng bằng da, buộc quanh cổ và 1 cái khác thì siết mạnh nơi tinh hoàn. Cũng có tin nói rằng Đại uý Hùng Sùi bóp dái Thảo cho đến chết.

Phạm Ngọc Thảo có 7 con và vợ Thảo đi dạy hoc. Tất cả hiện đang sinh sống ở Hoa Kỳ. Có người con là bác sĩ ở Quận Cam, Cali.

Phạm Ngọc Thảo là 1 điệp viên đơn tuyến. Không có thượng cấp và thuộc cấp. Không thu thập tin tức mà chỉ tác động vào chính quyền.

Nhà nước CSVN truy tặng Thảo danh hiệu Liệt sĩ và quân hàm Đại tá QĐNDVN.

Cũng có nguồn tin cho rằng Phạm Ngọc Thảo là 1 gián điệp nhị trùng, nghĩa là làm việc cho CIA nữa.

9* Kết luận

Việt Cộng nằm vùng thì thời nào cũng có, ở đâu cũng có. Bọn phản bội, ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản như cái đám dân biểu Đinh Văn Đệ, Nguyễn Văn Hàm, Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu…bà Ngô Bá Thành, Tôn Nữ Thị Nịnh… Đa số ham danh, nhẹ dạ dễ bị lừa gạt, trót lên lưng cọp nên phải cởi cọp.

Những người còn một chút xíu lương tri và liêm sỉ thì, trước khi chết, thốt lên vài tiếng ăn năn như Trương Như Tảng, bác sĩ Dương Huỳnh Hoa. Nguyễn Hộ, Lê Hiếu Đằng…và ngay cả thiếu tướng tình báo Việt Cộng Phạm Xuân Ẩn, trối trăn trước khi chết là “Đừng chôn tôi gần những người Cộng Sản.

Trúc Giang

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

Nhận định

Vào những ngày cuối của năm 2014, tình hình thế giới không có gì sáng sủa mà toàn là những biến động nguy hiểm không ai lường trước được. Chiến Tranh Lạnh Mới đã khởi đầu. Biên giới đối đầu Đông-Tây dần dần hình thành. NATO đang chuẩn bị chiến tranh với Nga. Trung Đông không chỗ nào yên, bom đạn tơi bời, chiến tranh tàn phá. Phi Châu Nigeria, Somalia, Nam Sudan nội chiến, Iraq, Afghanistan, Pakistan, Yemen…khủng bố hằng ngày. Những phần còn lại của thế giới chỗ nào cũng mua sắm thêm vũ khí, tăng chi phí quốc phòng- nhất các quốc gia Đông Nam Á. Trong một thế giới rối mù và hiểm nguy đó, nổi bật lên là hai bài báo mà có lẽ các chiến lược gia và các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, Úc Châu phải suy nghĩ.

1)      Vào ngày 15/12/2104 Tạp Chí Forbes đưa lên bài viết “Hoa Kỳ Cần Bao Nhiêu Kẻ Thù? Quốc Hội

Đã Hy Sinh Sự An Nguy Của Hoa Kỳ Bằng Cách Áp Đặt Thêm Cấm Vận Nga” (How Many Enemies Does America Want? Congress Sacrifices U.S. Security With New Sanctions Against Russia) (2) Doug Bandow (3) viết: “Nếu Âu Châu và các thành viên của họ muốn đối đầu với Nga vì vụ Ukraine thì họ cứ làm. Nhưng Hoa Thịnh Đốn thì không nên can thiệp vào. Hoa Kỳ không cần thiết phải lãnh đạo cuộc đối đầu này khi lục địa Âu Châu có dân số và kinh tế lớn hơn Hoa Kỳ. Giờ hãy để Âu Châu tự làm chuyện khó khăn đó….Nay Quốc Hội dường như muốn biến Nga - như Mitt Rommey đã lỡ lầm nghĩ rằng Nga là kẻ thù số một của Hoa Kỳ. Putin có thể làm thế, chẳng hạn như vũ trang cho Syria và Iran với hỏa tiễn phòng không tiên tiến, bênh vực quyền của Teheran được tái khởi động các lò phản ứng hạt nhân và ngăn cản việc tiếp vận cho Afghanistan của Mỹ. Tệ hại hơn, Putin có thể xích lại gần Trung Quốc hơn nữa. Có rất nhiều căng thẳng giữa Nga và Trung Quốc nhưng một yếu tố quan trọng khiến họ đoàn kết lại đó là: Sự đe dọa của Hoa Kỳ. Những nhà lập pháp dường như đã quên rằng một trong những mục tiêu nền tảng của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ bằng cách quay lại thời kỳ Nixon là mở của cho Hoa Lục khiến tách Hoa Lục và Liên-xô ra làm hai. Nay Hoa Kỳ lại đóng vai Liên-xô trong khi Putin lại đóng vai Nixon. Thất bại trong việc thẩm định những khó khăn một cách đúng đắn, các nhà lập pháp thường đi tới giải pháp sai lầm. Bộ tham mưu của Obama đã và đang nỗ lực áp đặt ý muốn của mình lên Moscow. Khó có quốc gia nào trên thế giới mà Hoa Kỳ không thể dạy dỗ/thuyết giáo, cấm vận, bắt nạt, hay đe dọa. Nhưng Nga lại là một ngoại lệ.” Về tầm mức quan trọng của Ukraine, Doug Bandon nhận định như sau, “Trong khi Hoa Kỳ, đặc biệt là sắc tộc Ukraine lo lắng về số phận của Ukraine, nhưng nó không phải là mối lo an ninh nghiêm trọng  của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ cũng đã khá thuận thảo/chẳng có rắc rối gì khi Nga cai trị Ukraine nhiều thế kỷ. Ai cai trị Donbass (bao gồm Donesk và Lugansk*) thì cũng chẳng quan trọng lắm với Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng Ukraine nêu ra những quan tâm về nhân đạo, nhưng nó cũng chẳng khác mấy những nơi khác trên thế giới.”

Quả thật, hiện nay Hoa Kỳ có quá nhiều kẻ thù và trong tương lai rất gần, có thể ngày mai, Hoa Kỳ lại có thêm kẻ thù mới. Bao nhiêu kẻ thù thì vừa đủ? Liệu một siêu cường hoặc “võ lâm chí tôn” có thể tồn tại được khi nó có quá nhiều kẻ thù không? Theo RT News, cuộc thăm dò 68 quốc gia khác nhau trên khắp thế giới của Worldwide Independent Network and Gallup cuối năm 2013 cho biết “Hoa Kỳ là mối đe dọa lớn nhất cho nền hòa bình thế giới ngày nay” (U.S. is the greatest threat to peace in the world today). Cuộc thăm dò không phải chỉ trong các quốc gia thù nghịch mà ở cả các quốc gia đồng minh như Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp cho thấy tinh thần chống Mỹ trên khắp thế giới như thế nào. Còn theo Fox News, sinh viên Đại Học Havard nói rằng “Hoa Kỳ nguy hiểm cho thế giới hơn là Nhà Nước Hồi Giáo ISIS” (Harvard students say U.S. bigger threat to world peace than ISIS).

2)Chỉ một ngày sau khi cuộc bắt giữ con tin tại một quán cà-phê thuộc trung tâm thương mại, tài chính Sydney kết thúc với ba người chết làm rúng động cả nước, Ô. Malcolm Fraser (4) - Cựu Thủ Tướng Úc đã đưa ra bài viết “Hoa Kỳ: Đồng Minh Nguy Hiểm của Úc Châu” (America: Australia's Dangerous Ally) đăng trên National Interest ngày 16/12/201 (5). Bài viết có đoạn: “Đây là lúc Úc Châu chấm dứt sự lệ thuộc có tính chiến lược vào Hoa Kỳ. Mối liên hệ với Hoa Kỳ từ lâu được coi như lợi lạc, nay trở thành nguy hiểm cho tương lai của Úc. Chúng ta đã giao quyền quyết định cho Hoa Kỳ khi nước Úc phải tham chiến. Cho dù Hoa Kỳ là quốc gia hoàn hảo và nhân từ nhất đi nữa thì tư thế này cũng không thích hợp/ không thể đi đôi với nguyên tắc chính thống của một quốc gia có chủ quyền. Chính sách lệ thuộc này đòi hỏi không những phải kính trọng mà còn tuân phục Hoa Thịnh Đốn, một chính sách không thể chấp nhận được cho một quốc gia (Úc *) mà sức mạnh và sự thịnh vượng đang tăng tiến và quyền lợi quốc gia buộc/nói rõ ràng là thân hữu, không thù hận trong sự giao hảo với các nước láng giềng, kể cả Trung Quốc. Có thể các học giả, các nhà hoạch định chính sách sẽ đau đớn khi tái lượng giá lại mối liên hệ này với Hoa Kỳ nhưng có bốn lý do chính khiến mối liên hệ này đã lỗi thời. Thứ nhất: Dù nói thế nào đi nữa/nói lung tung về sự thống nhất mục tiêu giữa hai quốc gia, sự thực là Úc Châu và Hoa Kỳ có sự khác biệt lớn lao về hệ thồng giá trị. Quan niệm “Hoa Kỳ là biệt lệ/ngoại lệ” trái hẳn với quan niệm”bình đẳng” của Úc Châu. Thứ hai: Chúng ta đã chứng kiến Hoa Kỳ hành động theo kiểu độc đoán, thiếu thận trọng và bốc đồng. Họ đã đưa ra một số quyết định kém thông tin, cố vấn tồi tệ liên quan đến Đông Âu, Nga và Trung Đông. Thứ ba: Giờ đây quân Mỹ đóng ở Úc Châu, nếu Hoa Kỳ gây chiến ở Thái Bình Dương thì họ cũng kéo chúng ta vào cuộc chiến mà không có quyết định độc lập của chúng ta. Sau hết: Với tình thế hiện tại, với bất cứ cuộc đối đầu nào tại Thái Bình Dương, mối liên hệ của chúng ta với Hoa Kỳ sẽ biến Úc Châu thành mục tiêu chiến lược cho kẻ thù của Hoa Kỳ (mà không phải kẻ thù của chúng ta *). Úc Châu chẳng lợi ích gì trong một vị thế như vậy.” 

Không hiểu các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách Hoa Kỳ nghĩ gì về bài viết này nhất là nó phát xuất từ một cựu thủ tướng đồng minh chí cốt của Hoa Kỳ? Chắc thế giới còn nhớ sau khi tiến hành cuộc chiến tranh Iraq năm 2003 với bao tổn thất về của cải và sinh mạng, Ô. Bush Con và Ô.Tony Blair đã bị chỉ trích nặng nề. Chính Ô. Obama đã đắc cử tổng thống nhờ lập trường chống chiến tranh Iraq mà dân Mỹ đã chán ngấy. Để biện minh cho cuộc xâm lăng, Ô. Bush Con tuyên bố, “Thế giới sẽ an toàn hơn khi Saddam Hussein không còn” (The world is safer without Saddam Husein.) Thế nhưng sau khi Ô. Saddam Hussein bị treo cổ, đất nước Iraq nát như tương và trên thực tế đã bị chia cắt ra làm ba dù Mỹ đã đổ vào đây cả nghìn tỉ đô-la, Anh Quốc 37 tỉ đô-la để xây dựng chính quyền của người Hồi Giáo Shia chiếm đa số. Phong trào và các tổ chức khủng bố lan rộng toàn cầu gấp năm, mười lần. Thời Ô. Saddam Hussein còn sống, đất nước Iraq không hề có một cuộc tấn công khủng bố nào. Ngày nay, không chỉ Ấn Độ, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Yemen, Lybia, Syria… đau khổ vì các cuộc tấn công khủng bố mà các quốc gia Tây Phương như Anh, Pháp, Đức, Canada, Úc Châu giờ đây cũng đang “nếm mùi” khủng bố cũng chỉ vì theo Mỹ can dự vào cuộc chiến Iraq, Afghanistan, Libya và nay thêm Nhà Nước Hồi Giáo IS. Theo tin AP ngày 30/12/2014: “Nhà Nước Hồi Giáo đã kêu gọi người theo Đạo Hồi giết những kẻ không tin Đạo Hồi ở Phương Tây và Úc Châu.” (The Islamic State had called on Muslims to kills disbelievers in the West, including Australia)

Hiện nay Thủ Tướng Abbott của Úc là người “hăng hái” - có lẽ hăng hái nhất của thế giới Tây Phương trong việc theo Mỹ trong các cuộc chiến tranh của Mỹ trên quy mô toàn cầu. Ngoài việc can dự vào cuộc xung đột ở Trung Đông, Úc viện trợ quân sự và gửi cố vấn tới Ukraina, cho Mỹ đóng quân tại Darwin, nạp đơn xin gia nhập NATO. Do đó, đúng như nhận định của cựu Thủ Tướng Malcolm Fraser, ngay bây giờ chứ chưa nói khi nổ ra chiến tranh, Úc Châu đang là mục tiêu, kể cả hỏa tiễn nguyên tử của Nga và Trung Quốc nhắm vào.

Qua bài viết trên chúng ta thấy lối suy nghĩ của Ô. Malcolm Fraser thật đơn giản và giống hệt chuyện ngoài đời. Giả sử chúng ta có một người bạn thân. Ông này gây thù chuốc oán nhiều quá. Hơn thế nữa, ông bạn ỷ mình giàu có, quyền thế cho nên kiêu căng, phách lối, thấy mình là  “biệt lệ/ngoại lệ ” có nghĩa mình là trên hết, mạng sống, quyền lợi, địa vị của mình, của gia đình mình, con cháu mình là quan trọng, còn của người khác thì như cỏ rác. Và oán thù cứ mỗi ngày chồng chất thêm thì - có lẽ đã đến lúc - không phải phản bội ông ấy - nhưng giã từ - tức “say goodbye “ với ông ấy…vừa về mặt đạo đức vừa để tránh hiểm họa cho bân thân mình.

Thế mới hay trên thế giới này, sự chọn lựa đồng minh có khi tốt nhưng có khi là thảm họa không biết chừng. Chẳng hạn như sự liên kết đồng minh của Đức-Ý-Nhật (Phe Trục) trong Thế Chiến II và mới đây nhất sự vội vã thiếu suy tính của Ô. Tony Blair theo chân Ô. Bush Con xâm lăng Iraq khiến để lại một di sản nhức nhối cho sự nghiệp chính trị của ông. Chính báo chí và các nhà lập pháp Hoa Kỳ phanh phui cuộc xâm hại Iraq hoàn toàn dựa trên tài liệu bịa đặt là Ô. Saddam Hussein có kho chứa vũ khí giết người hàng loạt khổng lồ và có liên hệ tới vụ tấn công 9/11.

Cõ lẽ bài báo của cựu Thủ Tướng Malcolm Fraser sẽ làm cho - không phải chỉ riêng Ô. Abbott - mà cả nước Úc nhức đầu vì nó liên hệ đến vận mệnh và giá trị nhân bản mà nước Úc theo đuổi.

Đào Văn Bình

(California ngày 31/12/2014)

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Ngón nghề tàn bạo của CIA: Quỷ đội lốt nhà khoa học


Trong báo cáo gây sốc của Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ về kỹ thuật tra tấn nghi can khủng bố của CIA, có hai cái tên xuất hiện rất nhiều lần: Grayson Swigert và Hammond Dunbar, tiến sĩ tâm lý lâm sàng

Grayson Swigert và Hammond Dunbar là 2 tác giả của kỹ thuật “thẩm vấn nâng cao” trong Chương trình Giam giữ và Thẩm vấn nghi can khủng bố (DIP) của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Theo truyền thông Mỹ, đó là bí danh của James Mitchell và Bruce Jessen, hai tiến sĩ tâm lý lâm sàng thuộc binh chủng Không quân Mỹ đã về hưu.
Xì-căng-đan 2 trong 1
James Mitchell và Bruce Jessen từng giảng dạy quân nhân Mỹ kỹ năng sống sót khi bị kẻ thù giam cầm và thẩm vấn. Kinh nghiệm của họ chỉ có vậy mà thôi. Thế nhưng, CIA đã giao cho họ thiết kế và thực hiện DIP từ năm 2002 đến 2009 với một hợp đồng trị giá 180 triệu USD.
Khi Tổng thống Obama ra lệnh đình chỉ DIP vào năm 2009, Mitchell và Jessen đã  được thanh toán 81 triệu USD. Từ cựu sĩ quan không quân vô danh, Mitchell và Jessen trở thành triệu phú và được CIA “bảo kê” về mặt pháp lý nếu chẳng may bí mật DIP bị “bật mí”.
Nếu chương trình DIP là xì-căng-đan thứ nhất của CIA (báo cáo không trung thực với quốc hội và tổng thống suốt thời gian dài) thì việc giao cho công ty tư nhân Mitchell Jenssen & Associates (thành lập năm 2005) thực hiện 85% nội dung chương trình, đồng thời dùng tiền đóng thuế của dân để trả công được coi là xì-căng-đan thứ hai mà báo cáo của Ủy ban Tình báo Thượng viện (SIC) phát hiện.

Hai tiến sĩ tâm lý lâm sàng Bruce Jessen và James Mitchell Ảnh: AGORAVOX
Hai tiến sĩ tâm lý lâm sàng Bruce Jessen và James Mitchell Ảnh: AGORAVOX

Vì sao CIA phải dùng tư nhân để làm chuyện quốc gia? Sự kiện 11-9-2001 là thất bại lớn nhất của CIA. Khi Tổng thống Bush phát động chiến tranh chống khủng bố toàn cầu, CIA được giao nhiệm vụ khai thác thông tin từ tù nhân Al-Qaeda. Do không có kinh nghiệm xây dựng, quản lý nhà tù bí mật và thẩm vấn nghi can khủng bố Al-Qaeda, CIA phải thuê mướn nhà thầu tư nhân có kinh nghiệm.
Đầu năm 2002, CIA phát hiện người cần tìm là James Mitchell - 50 tuổi, cựu trung tá không quân Mỹ trước khi trở thành  tiến sĩ tâm lý lâm sàng chuyên về điều trị huyết áp. CIA đưa cho ông ta nghiên cứu một quyển cẩm nang của Al-Qaeda tịch thu được ở Anh hướng dẫn các thành viên tổ chức khủng bố này cách đối phó với kỹ thuật thẩm vấn của Anh và Mỹ.
Át chủ bài  mà TS Mitchell đưa ra để thuyết phục CIA là một học thuyết mang tên “Learned helplessness”. Học thuyết này không phải của Mitchell mà là vay mượn từ TS Martin Seligman, một chuyên gia về hạnh phúc. Đầu năm 1965, Seligman và các đồng nghiệp phát hiện có thể dùng điện dạy chó trở nên ngoan ngoãn. Mitchell cho rằng nếu áp dụng cho người, cụ thể là dùng các biện pháp tra tấn khốc liệt, thì tù binh dù ngoan cố nhất cũng từ bỏ mọi ý định kháng cự hay vượt ngục và đành phải hợp tác với thẩm vấn viên để tự cứu mạng.
Mặc dù học thuyết kể trên - Mitchell và Jessen khoác cho chiếc áo mới gọi là “thẩm vấn nâng cao” -  không được các chuyên gia tâm lý nổi tiếng và thẩm vấn viên dày dạn kinh nghiệm thừa nhận vì thiếu chứng cứ khoa học, CIA vẫn tin dùng 2 tiến sĩ lâm sàng này.
Nhận xét về trình độ chuyên môn của Mitchell và Jessen, báo cáo của SIC vạch rõ: “Cả 2 nhà tâm lý này không có kinh nghiệm thẩm vấn hay hiểu biết gì về Al-Qaeda, về chủ nghĩa khủng bố hay văn hóa và ngôn ngữ của các phần tử khủng bố”. Thực tế đã chứng minh rằng học thuyết học lóm của Mitchell đã thất bại. Trong đa số trường hợp, sau khi bị nhục hình, nghi can Al-Qaeda chỉ khai ra những gì thẩm vấn viên muốn họ nói (kiểu ép cung) chứ CIA không thu được thông tin có giá trị thật sự.
Cho ăn bằng... hậu môn
Ngoài cẩm nang của Al-Qaeda, Mitchell và Jessen còn học những kiểu tra tấn tù binh Mỹ của Trung Quốc trong cuộc chiến Triều Tiên để “sáng tác” 12 kiểu tra tấn rùng rợn, vi phạm trắng trợn luật pháp Mỹ và Công ước Geneva. Hai tiến sĩ lâm sàng hy vọng biến nghi can Al-Qaeda cứng đầu nhất trở nên ngoan ngoãn cung cấp thông tin về âm mưu hay kế hoạch tấn công Mỹ và các nước đồng minh.
Báo mạng Huffington Post trích báo cáo của SIC liệt kê chi tiết kỹ thuật tra tấn tù nhân về thể xác lẫn tinh thần gây bất ngờ cho cả những người viết kịch bản điện ảnh Hollywood giàu óc tưởng tượng nhất. Một trong những kiểu tra tấn sốc nhất là cho ăn bằng hậu môn gây đau đớn tột cùng.
“Sau gần 3 tuần tra khảo không hiệu quả, CIA áp dụng biện pháp táo bạo hơn. Madjid Khan (bị can Al-Qaeda) bị ép ăn và bù nước qua ngả hậu môn 2 chai Ensure (thức uống tăng lực Mỹ)” - trang 115 báo cáo cho biết.
Ngoài chiêu hăm dọa “bắt cóc con, cưỡng hiếp vợ, cắt cổ mẹ”, “chỉ ra khỏi nhà giam trong quan tài”, “kê súng lục (không có đạn) vào đầu bóp cò”, CIA còn có ngón nghề trấn nước (xối nước lạnh liên tục vào mặt mũi được che bằng vải làm ngộp thở, gọi là waterboarding) khiến nghi can có cảm giác đuối nước, mình mẩy tím tái…
“Trong mấy buổi bị trấn nước, KSM (Khalid Sheikh Mohammed, kẻ được cho là chủ mưu vụ tấn công 11-9-2001) đã uống rất nhiều nước. Tài liệu lưu trữ CIA xác định “bụng KSM căng tròn, chỉ cần nhân viên y tế nhấn vào là nước trào ra miệng. Sợ KSM bị ngộ độc và gây rối loạn điện giải, nhân viên y tế dặn dò lần sau nên đổ nước muối…” - trang 86 báo cáo của SIC

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Hậu khủng bố 11/9: Mỹ “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”

Sau loạt vụ tấn công khủng bố 11/9/2001 (khi các phần tử al-Qaeda dùng 4 máy bay chở khách đâm vào các biểu tượng của nước Mỹ và giết hại 3.000 người vô tội), Mỹ đem quân đánh Afghanistan và Iraq, lật đổ chóng vánh chế độ Taliban và chế độ Saddam Hussein. Thế nhưng ngay sau đó cường quốc này phải vật lộn hàng năm trời ở vùng Trung Á và Trung Đông. Và đến bây giờ lại “mọc” thêm tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) còn nguy hiểm hơn cả al-Qaeda và Taliban. Từng tuyên bố phát động cuộc “thập tự chinh” chống chủ nghĩa khủng bố nói chung và al-Qaeda nói riêng, nước Mỹ dường như lại quay về vạch xuất phát.

Vụ tấn công 11/9 (ảnh: internet)

Nhớ lại năm 2003, Mỹ đã vin cớ vũ khí hủy diệt hàng loạt và mối liên hệ với tổ chức khủng bố quốc tế al-Qaeda để xâm lược Iraq. Khi ấy Tổng thống Iraq Saddam Hussein một mực phủ nhận cả 2 điều này, nhưng Mỹ đã ngụy tạo thông tin tình báo để làm tới. Sau khi lật đổ xong chế độ Saddam, chiếm trọn nước Iraq, họ vẫn không tìm nổi bằng chứng cho cả hai cái cớ nói trên.

Không những vậy Mỹ còn sa vào bãi lầy chiến tranh ở cả hai quốc gia này, dù al-Qaeda hứng chịu nhiều thiệt hại nặng nề. Riêng Iraq từ chỗ tương đối yên ả trở thành thiên đường khủng bố với các cuộc đánh bom tự sát tàn bạo hoặc là nhằm vào quân Mỹ và chính quyền Iraq hậu Saddam hoặc là để thanh toán lẫn nhau giữa các giáo phái Iraq.

Thành ra người ta phải đặt nghi vấn về sự thành công của nước Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố.

>> Xem thêm: Đằng sau vụ khủng bố vô tiền khoáng hậu 11/9

Chưa kể, những gì họ làm ở Iraq dường như hoàn toàn phản tác dụng. “Nhà nước Hồi giáo tự xưng” (IS) ở Iraq và Syria mới nổi lên trong năm 2014 tựa như trái đắng của chính sách Mỹ ở Trung Đông.

“Nhà nước Hồi giáo” tự xưng

Khối u này mọc lên sau sự can thiệp của người Mỹ và đang lây lan nhanh chóng ở Iraq và Syria.

Giới truyền thông và quan sát quốc tế ghi nhận IS mạnh hơn hẳn al-Qaeda. Bản thân lãnh đạo Mỹ, gồm Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, cũng thừa nhận IS “đẳng cấp” hơn và nguy hiểm hơn rất nhiều al-Qaeda và các tổ chức khủng bố khác.

IS vượt lên trên các nhóm khủng bố thông thường (bao gồm cả al-Qaeda) khi chủ trương chiếm lĩnh lãnh thổ. IS có nhiều nét của một đội quân chính quy với hệ thống chỉ huy tập trung và thống nhất, hệ thống liên lạc mạnh, cấu trúc tinh vi, tính kỷ luật cao và sự thiện chiến (khác với quân đội Iraq do Mỹ dựng lên thường có vấn đề về tham nhũng và kỹ năng chiến đấu).

Phiến binh Nhà nước Hồi giáo (IS) (ảnh: website phiến quân)

Nguồn tài chính cho IS lại dồi dào từ việc bán đầu, bắt cóc tống tiền, quyên góp của tín đồ (bao gồm người ở các nước vùng Vịnh giàu có), từ các nhóm Hồi giáo yếu hơn bị chinh phục (mà các nhóm này nhận được tiền và vũ khí từ các nước muốn lật đổ Tổng thống Syria Assad). Lời kêu gọi thành lập caliphate có ma lực lớn đối với nhiều người Hồi giáo, thu hút rất nhiều tân binh và nguồn tài chính ủng hộ. Ở mức độ nào đó, có thể xem IS như một hệ thống kinh tế tự túc thời chiến, với các “ban ngành”, tòa án, hệ thống thuế… riêng.

Là Hồi giáo cực đoan nhưng IS tỏ ra giỏi “PR” và sử dụng thành thục các mạng xã hội cho mục đích tuyên truyền. "Đương kim" thủ lĩnh Baghdadi của IS còn khá trẻ (sinh năm 1971) và nhiều nguồn tin khẳng định, y sở hữu bằng tiến sĩ.

>> Xem thêm: Tổ chức Hồi giáo IS vận hành quy củ như 1 chính phủ hiện đại

Không những vậy, có nhiều người Mỹ và châu Âu mê muội lại “mến mộ” tổ chức này và tình nguyện tham gia thánh chiến cho IS, khiến phương Tây cảm thấy rất bất an.

IS tạo ra mối nguy không chỉ tại Iraq và Syria mà trên phạm vi toàn thế giới. Chúng đặt mục tiêu trở thành “nhà nước” của tất cả người Hồi giáo trên toàn cầu.

IS vừa mạnh vừa ghê rợn và phản động. Chính các nước Hồi giáo nổi bật và đông dân như Saudi Arabia, Iran và Indonesia cũng quay lưng lại với phong trào mang danh Hồi giáo này. Chính trong cộng đồng Hồi giáo nhiều người đã coi IS là phi Hồi giáo. Còn Mỹ thì đang khổ sở tìm đủ phương kế và liên minh để đối phó với IS.

Nhìn lại lịch sử, đạo Hồi vốn mang trong mình tính cách mạnh mẽ của các tộc người Arab du mục ham chiến trận. Trong quá khứ xa xưa đã có những cuộc chiến tranh tôn giáo giữa hai phe thuộc đạo Kitô và đạo Hồi.

Tuy nhiên trên thực tế, không chỉ có đạo Hồi đơn thuần mà còn xuất hiện chủ nghĩa Hồi giáo hay còn gọi là đạo Hồi chính trị. Chủ nghĩa Hồi giáo là cách giải thích có tính cứng rắn và truyền thống về các giáo lý của đạo Hồi. Nó chủ trương đạo Hồi phải nhập thế, và phải xây dựng thể chế chính trị cho tôn giáo này. Riêng chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan còn diễn giải kinh Koran theo hướng bóp méo.

Hệ tư tưởng của IS hiện nay chính là chủ nghĩa Hồi giáo ở dạng cực đoan nhất (đến nhóm khủng bố al-Qaeda còn phải thấy sợ IS).

Dấu ấn chủ nghĩa can thiệp

Thực tiễn cũng chỉ ra phong trào IS không hoàn toàn là do yếu tố nội sinh của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan và chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo.

IS chắc chắn sẽ khó ra đời và tác oai tác quái như vừa qua nếu không có những sự can thiệp và dung dưỡng từ phương Tây, đặc biệt là Mỹ, cả về dài hạn và ngắn hạn.

Ban đầu, chủ nghĩa Hồi giáo phát triển trước ảnh hưởng và xâm nhập của phương Tây đối với thế giới Arab và Hồi giáo trong các thế kỷ 18-19. Đầu thế kỷ 20, đế chế Ottoman rộng lớn của những người Hồi giáo bị phương Tây góp phần làm cho tan rã, khiến những phần tử Hồi giáo cực đoan thêm hậm hực. Sau Thế chiến thứ 2, Mỹ bắt đầu can dự mạnh mẽ vào Trung Đông – một sự can dự kéo dài sang cả thế kỷ 21 và đã vấp phải phản ứng gay gắt trong cộng đồng Hồi giáo ở khu vực này.

Lịch sử phong trào IS phản ảnh rất rõ dấu ấn can thiệp và những ván bài “kép” của Mỹ trong đầu thế kỷ 21.

IS bắt nguồn từ chi nhánh al-Qaeda ở Iraq - được thành lập vào năm 2004 sau khi Mỹ xâm lược Iraq vào năm 2003. Đến năm 2006, tổ chức này phát triển thành cái gọi là Nhà nước Hồi giáo Iraq. Đến năm 2010 Baghdadi trở thành thủ lĩnh IS. Dưới trướng Baghdadi, sang năm 2013, IS mở rộng sang Syria đang ngập chìm trong nội chiến. Đến tháng 6/2014, IS tuyên bố thành lập “Nhà nước Hồi giáo” với tư cách là một caliphate vắt qua lãnh thổ Iraq và Syria, có định hướng phát triển ra toàn vùng Levant và tất cả các nước có nhiều người Hồi giáo.

Hàng ngũ IS bao gồm một số cựu tướng lĩnh dưới chế độ Tổng thống Saddam Hussein (bị Mỹ lật đổ năm 2003).

Như vậy sự phát triển của IS gắn liền với quá trình can thiệp của Mỹ vào Iraq và Syria.

Liên quân Mỹ-Anh xâm nhập lãnh thổ Iraq, lật đổ chính quyền của Tổng thống Saddam (ảnh: Reuters)

Thế giới đã rõ về bài học tạo cớ khi Mỹ phát động chiến tranh xâm lược Iraq năm 2003. Tuy lật đổ thành công đảng Baath của ông Saddam và dựng lên chính phủ thân Mỹ ở đây, họ lại tạo ra một khoảng trống nguy hiểm cho cuộc chiến giáo phái tàn khốc cùng với tư tưởng bất mãn trong dân chúng địa phương về những cái cớ ngụy tạo của người Mỹ.

Trước kia, vào những năm 1980 Mỹ (cùng với hàng loạt nước Arab, nhất là các nước đồng minh của Mỹ trong khu vực) đã rất hồ hởi ủng hộ chế độ Saddam Hussein do ông này dám phát động chiến tranh chống Iran – đất nước của số đông người Shiite (chiếm khoảng 90% dân số) và vừa trải qua Cách mạng dân tộc dân chủ và Cách mạng Hồi giáo kinh thiên động địa. Chính quyền Iraq thế tục vừa muốn làm bá chủ Trung Đông khi đó, vừa sợ cách mạng Hồi giáo ở Iran sẽ lan sang nước mình cũng có đông người Shiite.

Khi đó Mỹ và các đồng minh khu vực thấy Iraq là công cụ đối phó với “nguy cơ Iran” nên ra sức ủng hộ (thậm chí tình báo Mỹ còn cung cấp thông tin tình báo và cả vũ khí hóa học cho quân đội Iraq).

Tiếp tục canh bạc nguy hiểm

Đến khi Mỹ ở vào thế đối đầu với Iraq trong Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, Mỹ vẫn tiếp tục duy trì con bài Iraq làm thế đối trọng với Cộng hòa Hồi giáo Iran. Sau khi thua trong cuộc chiến này, Iraq bị suy yếu về mọi mặt và các cuộc nổi dậy bùng phát trên toàn lãnh thổ Iraq làm lung lay chế độ Saddam. Nhưng Mỹ vẫn làm ngơ, không trợ giúp gì cho các cuộc nổi dậy đó (khác hẳn với năm 2003 khi Mỹ đã chán ngấy ông Saddam). Và nhờ đó Tổng thống Saddam đã trấn áp dữ dội phong trào nổi dậy, giữ vững quyền lực của mình.

Quân đội Syria ăn mừng chiến thắng trước các phe phiến quân đối lập (ảnh: shiachat)

Đến khi nội chiến Syria nổ ra, lại xuất hiện các phe vũ trang đối lập với chính thể của Tổng thống Assad. Canh bạc nguy hiểm của Mỹ và một số nước Trung Đông không ưa Assad lại bắt đầu. Họ dung dưỡng các phái vũ trang (cả thế tục và Hồi giáo) chống lại ông Assad. Và chính tình trạng hỗn loạn ở Syria tạo điều kiện cho phong trào IS - vốn thuộc về Iraq - phát triển vượt biên giới sang Syria và “đóng đô” ở Raqqa thuộc miền bắc Syria.

Điều nực cười là tiền bạc và vũ khí mà Mỹ, phương Tây và đồng minh Arab viện trợ cho các phe đối lập Syria ôn hòa đã ít nhiều rơi trực tiếp hoặc gián tiếp vào tay IS, làm cho tổ chức này càng lớn mạnh thêm.

Do mải đối phó Tổng thống Assad nên từ trước đến nay, Mỹ và đồng minh không thể liên kết với ông Assad để dập tắt hiểm họa IS. Đến giờ, khi nước sôi lửa bỏng, Mỹ vẫn chưa chịu xin phép Syria để được oanh kích các vị trí IS ở Syria. Cách tiếp cận của Mỹ hiện nay ở Syria vẫn là hỗ trợ các phe đối lập trung dung để đối phó với IS. Mỹ sợ làm cho phe ông Assad mạnh lên.

Ngược lại, chính quyền Assad thấy rõ “ngón nghề” của Mỹ nên đã tương kế tựu kế. Trước mắt do tình thế, họ chỉ tập trung diệt các nhóm đối lập thân Mỹ. Thứ hai, có nhiều dấu hiệu cho thấy trong giai đoạn ban đầu, họ chủ động làm ngơ với nhóm IS, để cho IS “ngoạm” lực lượng đối lập còn lại (IS thù nghịch cả ông Assad lẫn phe đối lập còn lại). Đồng thời qua đó Syria cũng muốn mở mắt phương Tây, làm cho họ thấy rõ ai mới là chính nghĩa. Và hiển nhiên đối với phương Tây, nếu phải chọn một, thì chế độ Assad dễ chịu hơn IS rất nhiều.

Thế rồi nhóm cực đoan IS đặt ra tình huống đặc biệt nguy hiểm đối với chế độ Assad. Vào tháng 6/2014, IS tuyên bố về nhà nước Caliphate vắt qua lãnh thổ của cả Syria và Iraq, với thủ đô đóng ở thành phố Raqqa thuộc Syria. Quân IS tiến như vũ bão, tàn sát cả quân và dân Syria. Trong khi đó, phe đối lập ôn hòa Syria kêu gọi Mỹ không kích vào các vị trí của IS trên đất Syria, bất chấp ý kiến của Tổng thống Assad.

Trước tình thế này, Syria đã phản ứng kiên quyết bằng hàng loạt cuộc không kích dữ dội vào các cơ sở của IS ở Syria. Điều này vừa chặn đà tiến của phiến quân IS vừa gửi đi thông điệp cho Mỹ: Syria rất hợp tác chống khủng bố và Mỹ không nên can thiệp đơn phương vào tình hình Syria. Về mặt chính thức, Syria cũng đã lên tiếng sẽ nỗ lực hết mình chống IS.

Tóm lại, “đại dịch” IS hiện nay trước hết là chiếc boomerang được tạo bởi chính sách của Mỹ đối với Iraq và Syria, đang phản lại chính nước Mỹ và phương Tây. Họ cố gắng tính kỹ nhưng vẫn lộ nhiều sơ hở.

Để chống IS hiệu quả, từ góc độ chính sách đối ngoại Mỹ, một điều quan trọng là họ cần dũng cảm xếp sang một bên các hiềm khích và tầm nhìn ngắn hạn để có thể hợp tác hiệu quả với cả đối thủ Syria và Iran./

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

Bản báo cáo ghê rợn về CIA

Báo cáo về chương trình thẩm vấn nghi can khủng bố của Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) mới được Thượng viện Mỹ công bố gây sốc bởi tính dã man.

About JW Player 6.10.4906 (Premium edition)

00:00

00:00

00:00

Nữ thượng nghị sĩ Dianne Feinstein, chủ tịch Ủy ban tình báo Thượng viện, trả lời báo chí sau khi công bố báo cáo ngày 9-12. Bà là người quyết tâm đưa báo cáo này ra công luận - Ảnh: Reuters

Ngược đãi tù nhân sẽ đưa đến thông tin tình báo tồi tệ hơn là tốt

Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa John McCain

Báo cáo của Thượng viện Mỹ nói những biện pháp tra tấn của CIA dưới thời tổng thống George W. Bush dã man hơn người ta từng nghĩ và đã không thể đem lại các thông tin tình báo hữu ích.

Ủy ban tình báo Thượng viện Mỹ cho rằng CIA cũng đã lừa dối Nhà Trắng và Quốc hội với tuyên bố không chính xác về tính hiệu quả của chương trình.

Theo AFP, bản thân Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng thừa nhận một số chiến thuật được nêu trong báo cáo tóm tắt 500 trang của Thượng viện là “độc ác”.

Ông phát biểu: “Có rất nhiều người đã làm việc cật lực sau vụ 11-9 để đảm bảo an toàn cho chúng ta trong tình thế nguy hiểm và trong một thời kỳ mà người dân không chắc điều gì đang xảy ra. Nhưng cũng có thực tế rằng chúng ta đã có một số bước đi trái ngược với hình ảnh và giá trị của chúng ta”.

Tra khảo dã man

Những gì được miêu tả trong bản báo cáo về CIA có thể khiến nhiều người rùng mình. Các biện pháp tồi tệ nhất đã bị lôi ra ánh sáng tại một địa điểm giam giữ bí mật của CIA với tên gọi COBALT, nơi các hình thức tra khảo phi pháp được thực hiện từ năm 2002.

Bắt đầu với tù nhân Al-Qaeda cấp cao đầu tiên của CIA là Abu Zubaydah. Nghi can này bị người thẩm vấn xô đập vào tường một cách đều đặn. Các hình thức khác như tát vào mặt hoặc đấm vào bụng cũng được sử dụng.

Các nghi can còn bị hành hạ với nhiều cách khác dã man hơn như không được cho ngủ với thời gian lên tới 180 giờ, tức hơn một tuần. Thông thường, họ sẽ bị bắt phải đứng hoặc bị ép vào các tư thế gây ức chế. Đôi khi tay của họ bị xích vòng trên đầu hay thậm chí là bị xích trên trần.

Abu Zubaydah đã bị giam trong một căn phòng toàn màu trắng và được thắp sáng 24/24 giờ. Đôi khi người này cũng bị không cho ngủ bằng cách bị thẩm vấn liên tục. Ít nhất năm nghi can đã bị lâm vào tình trạng “ảo giác nhiễu loạn” nhưng ít nhất hai trường hợp trong số này bị CIA tiếp tục dùng phương pháp kể trên.

Cũng liên quan đến trường hợp của Abu Zubaydah, trong vòng 20 ngày anh ta đã trải qua 266 giờ (11 ngày 2 giờ) trong một cái thùng có kích cỡ như chiếc quan tài và 29 giờ trong một cái thùng khác nhỏ hơn trong quá trình thẩm vấn. Có lúc tù nhân bị nhốt trong căn phòng tối hoàn toàn, thường là bị xiềng tay trên đầu và bị lột truồng.

Họ bị tra tấn bằng nhạc và tiếng ồn âm lượng lớn, chỉ được cho một cái xô để đi vệ sinh. Năm 2002, một tù nhân bị lột truồng một phần và bị xiềng vào nền bêtông đã chết, nghi là do bị hạ thân nhiệt. Các hình thức khác được nêu trong báo cáo còn có phương pháp cho nghi can tắm nước đá.

Nhiều nghi can cũng bị lôi ra khỏi xà lim, lột truồng rồi bị quấn bằng băng keo dán ống nước. Sau đó, nghi can sẽ bị trùm đầu rồi bị kéo lê lết trong một hành lang bẩn thỉu trong khi bị tát và đấm. Sau cái chết của Gul Rahman ở COBALT, người ta phát hiện trên thi thể của anh ta bị trùm kín với nhiều vết bầm tím.

Nhiều nghi can đã kể lại thẩm vấn viên dọa rằng họ sẽ chỉ có thể rời nơi giam giữ trong cái thùng hình dáng quan tài hay thậm chí là gia đình họ, con cái họ sẽ bị xử. Có nghi can nói anh ta bị dọa rằng người ta sẽ xâm hại tình dục mẹ anh hay thậm chí là cắt cổ bà. Các biện pháp này để đảm bảo tù nhân bị đẩy tới tâm trạng tuyệt vọng.

Tất nhiên không thể không kể đến phương pháp tra tấn ván nước từng được nhắc đến nhiều lần. Kẻ tự thú đứng sau vụ 11-9 Khalid Sheikh Mohammed được nói đã bị tra tấn ván nước 183 lần. Riêng trong tháng 3-2003, anh ta trải qua 5 đợt tra tấn như vậy trong hơn 25 giờ.

Thuê người không kinh nghiệm

Theo báo cáo của Thượng viện Mỹ, CIA đã chi tới 80 triệu USD để thuê một công ty được vận hành bởi hai cựu chuyên viên tâm lý không quân Mỹ. Những người này đã đưa ra các đề xuất về các hình thức tra tấn như ván nước, tát vào mặt và dọa chôn sống đối với nghi can khủng bố.

Theo Reuters, hai nhân vật này được nhắc đến trong bản báo cáo với tên Dunbar và Swigert nhưng đã được xác định là James Mitchell và Bruce Jessen. Đáng nói là họ không hề có kinh nghiệm trong lĩnh vực thẩm vấn và chống khủng bố.

CIA đã đẩy 80% khối lượng công việc trong chương trình thẩm vấn cho công ty của hai ông này. Công ty này làm việc từ năm 2005 đến khi kết thúc hợp đồng vào 2009. CIA cùng chi tới 1 triệu USD để bảo vệ công ty này cùng các nhân viên của họ khỏi các trách nhiệm pháp lý.

Báo cáo của Thượng viện Mỹ đã đặt dấu chấm hỏi về chất lượng của những nhà tâm lý này và cáo buộc họ vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức chuyên nghiệp.

“Không ai trong số những nhà tâm lý này có kinh nghiệm về thẩm vấn cũng như có kiến thức chuyên sâu về Al-Qaeda, chống khủng bố hay những kiến thức liên quan” - báo cáo nói.

Theo Reuters, người đứng đầu bộ phận thẩm vấn của CIA đã quá kinh hoàng khi nhận được kế hoạch thẩm vấn được đề xuất. Ông gửi thư cho đồng nghiệp nói rằng chương trình thẩm vấn này là một kế hoạch đang chực chờ sụp đổ và ông không muốn tham gia.

Ông Mitchell từ chối xác nhận trả lời câu hỏi của Reuters về chương trình. “Đi mà nói chuyện với CIA” - ông nói. Hồi tháng 4, trả lời tờ Guardian, ông Mitchell nói ông không có gì để xin lỗi cả. Đáng nói hơn, cả hai nhà tâm lý kể trên được phép tự đánh giá công việc của mình và bao giờ họ cũng cho họ điểm số cao nhất.

CNN cho biết CIA liên tục tuyên bố rằng các hình thức thẩm vấn của họ đã giúp tiêu diệt được trùm khủng bố Osama Bin Laden, nhưng báo cáo của Thượng viện Mỹ kết luận rằng hầu hết thông tin chính xác dẫn đến việc tiêu diệt trùm khủng bố đến từ một nghi can trước khi người này bị tra tấn.

Sẽ không ai bị truy tố?

Reuters cho biết việc truy tố hình sự đối với những người vận hành các nhà tù bí mật và các biện pháp thẩm vấn dã man từ năm 2002-2006 dường như sẽ không diễn ra bất chấp yêu cầu từ những nhà chủ trương quyền công dân.

Tổng thống Obama ra tín hiệu rằng ông quan tâm đến tương lai hơn là khơi lại quá khứ đen tối. Ông phát biểu rằng thay vì lấy lý do để tranh cãi lại những vấn đề cũ, bản báo cáo mới này giúp nước Mỹ bỏ lại những phương pháp thẩm vấn này vào quá khứ. Khi lên nắm quyền vào năm 2009, ông Obama đã cấm các hình thức thẩm vấn dã man.

CIA và những người ủng hộ cơ quan này lên tiếng phản đối điều tra hình sự, nói rằng hành động của họ được Bộ Tư pháp và Nhà Trắng dưới thời tổng thống Bush trao thẩm quyền.

Tuy nhiên, các nhà chủ trương quyền công dân nói việc chịu trách nhiệm là cần thiết để đảm bảo những hình thức tra tấn không được tái sử dụng trong tương lai. Theo AFP, cựu tổng thống Bush chỉ được báo cáo về việc tra tấn bốn năm sau khi chương trình này bắt đầu.

Tổng giám đốc Liên đoàn Các quyền tự do dân sự Mỹ Anthony Romero nói bản báo cáo của Thượng viện đã đưa ra một kế hoạch cho khả năng truy tố. Điều tra viên kiêm chuyên gia nhân quyền Liên Hiệp Quốc Ben Emmerson cho rằng bản báo cáo đã tiết lộ một “chính sách rõ ràng được dựng lên ở một cấp cao trong chính quyền Bush” và kêu gọi truy tố những quan chức Mỹ ra lệnh tra tấn tù nhân.

Ông nói luật quốc tế cấm việc cấp quy chế miễn trừ đối với quan chức dính líu đến hành động tra tấn. Theo ông, tra tấn là một tội ác quốc tế và người vi phạm có thể bị truy tố ở bất kỳ quốc gia nào họ đi đến. Một số quan chức thời ông Bush đã được cảnh báo không đi đến châu Âu.

Các công tố viên Ba Lan đang điều tra các nhà tù bí mật của CIA ở nước này hôm 9-12 cũng đã yêu cầu tiếp cận báo cáo của Thượng viện Mỹ. Trước đây, các báo cáo cho rằng những nhà tù bí mật của CIA nằm ở Ba Lan, Thái Lan, Afghanistan, Romania và Lithuania.

Theo AFP, sau khi bản báo cáo được công bố, luật sư của nghi can vụ 11-9 Khalid Sheikh Mohammed nói người này không thể chịu án tử hình. “Sẽ là không hợp pháp, không nhân đạo và không công bằng khi xử tử một người sau khi đã tra tấn anh ta” - luật sư David Nevin nói.

Các nước phản ứng

Lên tiếng về bản báo cáo, Thủ tướng Anh David Cameron phát biểu rằng: “Chúng ta không thể thành công nếu chúng ta đánh mất nguyên tắc đạo đức”. Đức nói rằng các biện pháp tra tấn của CIA là một “sự vi phạm thô bạo các giá trị tự do và dân chủ của chúng ta”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi hôm qua cũng lên tiếng kêu gọi Mỹ “nghiêm chỉnh tuân thủ và tôn trọng các luật lệ của các công ước quốc tế liên quan”.

CHDCND Triều Tiên cũng yêu cầu Liên Hiệp Quốc điều tra Mỹ sau khi bản báo cáo về tra tấn được công bố. Theo AFP, Bình Nhưỡng cho rằng bản báo cáo là một phép thử lớn cho uy tín của Hội đồng Bảo an.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao CHDCND Triều Tiên nói không thể bàn luận thành tích nhân quyền của Bình Nhưỡng mà nhắm mắt trước sự vi phạm của một trong những thành viên thường trực của hội đồng.

Lãnh đạo tối cao Iran Ayatollah Ali Khamenei nói việc tra tấn các nghi can của CIA cho thấy Chính phủ Mỹ là một “biểu tượng chuyên chế chống lại nhân loại”. Tân Tổng thống Afghanistan Ashraf Ghani lên án “hành động vô nhân đạo này với những từ ngữ mạnh mẽ nhất”.

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

cách chữa BỆNH bằng MẸO

On Tuesday, December 9, 2014 8:39 AM, NHUNG LE <lettnhung88@yahoo.com> wrote:

On Tuesday, December 9, 2014 1:13 AM

Ai tin thi thuc hanh.

6 cách chữa BỆNH bằng MẸO ,Quý Vị nhớ giữ kỹ ,kẻo mất uổng lắm ...
Mẹo vặt chữa bệnh
Cơ thể người là một bộ máy sinh học vô cùng huyền diệu, có khả năng tự điều chỉnh rất cao. Nắm được cơ chế của nó qua các đồ hình và sinh huyệt sẽ giúp cơ thể tự điều chỉnh mỗi khi bị trục trặc. Diện chẩn điều khiển liệu pháp Bùi Quốc Châu sẽ tặng bạn “chiếc đũa thần” nhằm giúp bạn tự hóa giải mỗi khi “ngọc thể” bất an.
01. Bụi hoặc muỗi bay vào mắt, mắt bị cay xè:
Chớ có dụi mắt mà tổn thương đến giác mạc. Chỉ cần thè lưỡi liếm mép vài cái, nước mắt sẽ ứa ra “lùa vật lạ” ra khỏi mắt! Nên nhớ một điều: nếu bị mắt phải thì liếm mép bên trái và ngược lại.
02. Mắt nhắm không khít: 
Một mắt nhắm không khít (do bị liệt dây thần kinh số 7 chẳng hạn), hơ ngải cứu bên mắt đối xứng. Ngày hơ nhiều lần, mỗi lần hơ độ vài phút, mắt sẽ dần dần nhắm khít.
03. Mũi nghẹt cứng: 
Dù mũi bị nghẹt (tắc hoặc tịt) đến mức nào và đã bao lâu rồi, chỉ cần hơ ngải cứu vào đồ hình mũi trên trán - từ giữa trán (huyệt 103) đến đầu đôi lông mày (huyệt 26), độ một phút thôi, mũi sẽ thông thoáng ngay. Thật là một phép lạ đến khó tin.
04. Bả vai đau nhức, không giơ lên cao được:
Dùng đầu ngón tay trỏ gõ vài chục cái vào đầu mày (huyện 65) cùng bên đau. Vai hết đau và tay lại giơ lên cao được ngay.
05. Bong gân, trật khớp cổ tay: 
Hãy bình tĩnh dùng ngón tay trỏ gõ mạnh độ vài chục cái vào sát đuôi mày cùng bên đau, cổ tay sẽ trở lại bình thường (muốn tìm điểm chính xác cần gõ, hãy lấy ngón tay miết nhẹ vào đuôi mày, thấy chỗ nào hơi lõm xuống, đấy là điểm chính xác - huyệt 100 - phản chiếu đúng cổ tay).
06. Bong gân, trật khớp vùng mắt cá chân: 
Mắt cá chân bên nào bị trật khớp, hơ vùng mắt cá tay cùng bên. Mắt cá chân bị đau dù đã lâu ngày cũng lành trong vài phút. Các vận động viên quốc gia, các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hãy nhớ lấy mẹo này để tự cứu mình và giúp người.
07. Bắp chân bị vọp bẻ (chuột rút):
Dùng cườm tay day mạnh vào bắp tay độ vài chục cái, vọp bẻ hết liền. Nhớ vọp bẻ chân bên nào thì day mạnh bắp tay bên đó.
08. Gai gót chân:
Nhớ hơ đúng điểm tương ứng bên gót chân đối xứng, chỉ vài phút thôi, gót chân hết đau liền. Hết sức cẩn thận kẻo bị phỏng.
09. Đầu gối đau nhức:
Hơ vùng khuỷu tay (cùi chỏ) cùng bên, chỉ độ vài phút đầu gối (khuỷu chân) hết đau liền.
10. Bị táo bón lâu ngày:
Dùng hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) lăn quanh miệng độ vài ba phút - khoảng độ 200 vòng, táo bón sẽ được giải quyết.
Cách lăn như sau: lăn từ mép phải vòng lên môi trên sang mép trái. Lăn tiếp vào phía dưới và giữa môi dưới rồi kéo thẳng xuống ụ cằm (hình thành một dấu hỏi lớn chiếm 3/4 quanh miệng). Nhớ lăn từ phải qua trái mới nhuận tràng, hết táo bón. Ngược lại lăn từ trái qua phải, sẽ càng táo bón hơn đấy!
11. Nhức đầu
a. Bất cứ nhức ở bộ phận nào trên đầu, mới nhức hay đã lâu, nặng hay nhẹ, chỉ cần hơ mu bàn tay trái (đã nắm lại) trên điếu ngải độ vài phút, nhức đầu như búa bổ cũng hết ngay. Nào! Thử làm xem.
b. Nếu nhức nửa đầu bên phải, hơ nửa mu bàn tay phía bên phải.
c. Nếu nhức nửa đầu bên trái, hơ nửa mu bàn tay phía bên trái.
d. Nếu nhức sau gáy, hơ phía cổ tay trên.
e. Nếu nhức đỉnh đầu, hơ ụ xương gồ cao nhất của ngón tay giữa.
f. Nếu nhức thái dương, chỉ cần hơ thái dương đối xứng 1 phút là hết ngay.
g. Nếu nhức cả hai bên thì hơ đi hơ lại.
h. Nếu nhức trán, hơ hết các đốt cuối của 4 ngón tay đã nắm lại.
i. Nếu chỉ nhức nửa trán bên phải, hơ 2 ngón tay bên phải. 
k. Nếu chỉ nhức nửa trán bên trái, hơ 2 ngón tay bên trái.
l. Nếu chỉ nhức giữa trán, chỉ cần hơ 2 ngón giữa độ 1 phút là hết ngay.
k. Nếu nhức quanh đầu, hơ quanh mu bàn tay.
12. Mất ngủ
Bất kể mất ngủ vì nguyên nhân gì, xin nhớ không nên dùng thuốc ngủ vừa tiền mất vừa tật mang. Bí quyết đơn giản để có giấc ngủ ngon là: trước khi ngủ, hãy xoa đôi bàn chân cho ấm. Chân ấm là bụng ấm, thân ấm. Đó là điều kiện đầu tiên để ngủ ngon. Sau đó, dùng đầu ngón tay giữa bên trái gõ vào huyệt An thần (tức Ấn đường của Đông y hoặc huyệt 26 của Diện Chẩn - đầu đôi lông mày) độ vài phút sẽ làm nhịp tim ổn định và tinh thần được thư thái. Tay trái phản chiếu tim, Đầu ngón tay giữa phản chiếu cái đầu. Tâm và Thân an lạc – đó là những điều kiện cần thiết để ngủ ngon.
13. Sình bụng (do ăn không tiêu)
Nếu ở nhà, hãy lấy ngải cứu hơ vào rốn và quanh vùng rốn độ vài phút, bụng sẽ xẹp dần. Nếu đang ở bữa tiệc đông khách, hãy lặng lẽ đi ra ngoài đến chỗ vắng người, lăn bờ môi trên một lúc: trung tiện bùng phát, bụng hết sình ngay!
14. Bí tiểu
Người lớn hoặc các cháu nhỏ có lúc bí tiểu, hãy bình tĩnh vuốt cằm độ vài phút, “cơn bí” hết liền! Cách vuốt như sau: ngón tay cái giữ chân cằm, ngón tay trỏ vuốt ụ cằm từ trên xuống dưới nhiều lần. Bàng quang sẽ được tháo nút, nước tiểu tự do chảy (theo Diện Chẩn, ụ cằm phản chiếu bàng quang – huyệt 87). Các cụ già hay đi tiểu đêm, các cháu nhỏ hay đái dầm, trước khi ngủ độ 15 phút hãy tự vuốt cằm đi, các “tật” trên sẽ tự biến rất nhanh!
15. Nấc cụt
Đây là bệnh thông thường nhưng lại gây nhiều khó chịu, làm cho người bệnh mất ăn, mất ngủ. Ăn sao được khi vừa nâng bát cơm lên đã bị cơn nấc trào ngược rồi; ngủ sao được khi vừa nằm xuống, cơn nấc đã rộ lên âm vang khắp nhà! Có người phải nằm bệnh viện nhiều ngày mà vẫn không dứt căn. Chỉ cần làm một trong các hướng dẫn dưới đây, nấc cụt sẽ phải “đầu hàng”:
a- Dùng đầu ngón tay trỏ gõ mạnh vào đầu sống mũi nằm giữa cặp lông mày (huyệt 26 và312) độ 15 cái. Nấc cụt biến mất đến khó tin (huyệt 26 là an thần và huyệt 312 thông nghẽn nghẹt).
b- Dùng đầu ngón tay trỏ vuốt mạnh từ đầu cánh mũi bên trái xuôi xuống chân cánh mũi độ 10-15 cái. Nấc cụt chịu phép phải nằm im, không dám ló mặt ra!
c- Dùng 4 đầu ngón tay (từ ngón trỏ đến ngón út co sát lại với nhau thành một đường thẳng) vạch dọc giữa đầu (từ trán ngược lên đỉnh đầu) độ 15 cái là hết nấc cụt! Xin hãy thử làm xem!
16. Đau bụng
Có thể khỏi nhanh bằng một trong những cách chữa đơn giản sau:
a- Hơ (bằng điếu ngải) hai lòng bàn tay độ 10 phút.
b- Hơ hai lòng bàn chân độ 10 phút.
c- Hơ rốn và lấy tay lăn quanh miệng.
17. Đau tử cung:
a- Gạch rãnh nhân trung từ đầu rãnh (sát mũi) đến cuối rãnh (sát bờ môi trên) nhiều lần.
b- Gạch hai bờ nhân trung và bờ môi trên nhiều lần.
18. Đau đầu dương vật:
Chỉ cần hơ đầu mũi độ 1 phút, đầu dương vật sẽ hết đau.
19. Đau khớp háng:
Gạch và hơ đường viền cánh mũi một lúc, khớp háng hết đau. Nhớ đau khớp háng bên nào thì gạch đường viền cánh mũi cùng bên.
20. Đau gót chân:
Hơ và gõ gót chân đối xứng độ vài phút, gót chân đang đau hết ngay.
21. Đau bụng kinh:
Hãy vuốt môi trên vài phút, đau bụng kinh hết liền.
22. Ho ngứa cổ:
a- Chà xát hai cổ tay vào nhau nhiều lần. Nhớ hai bàn tay phải nắm lại đã trước khi cọ xát vào nhau.
b- Hơ cổ tay trong của bàn tay trái đã nắm lại vài phút, ho và ngứa cổ hết rất nhanh. Xin chú ý, bàn tay trái nắm lại, lật úp xuống: mu bàn tay phản chiếu đầu não, cổ tay phản chiếu cổ gáy. Bàn tay trái nắm lại, lật ngửa ra: lòng bàn tay phả chiếu trái tim, cổ tay phản chiếu cổ họng.
23. Huyết áp cao:
Hãy lấy đầu ngón tay út bấm vào huyệt (huyệt 15) nằm sâu sau loa tai bên trái nhiều lần (độ 1 phút), huyết áp sẽ hạ liền.
24. Huyết áp thấp:
Vẫn dùng đầu ngón tay út bấm sâu vào huyệt (huyệt 19) đầu nhân trung sát với mũi nhiều lần, huyết áp sẽ được nâng lên liền.
25. Huyết trắng:
Dùng hai đầu ngón tay – ngón trỏ và ngón giữa – để nằm ngang chà xát hai bờ môi một lúc.
26. Bế kinh:
Dùng lăn đôi lớn lăn xuôi từ rốn xuống háng cho đến khi bụng nóng lên. Ngày lăn nhiều lần; độ 3-5 ngày, kinh nguyệt sẽ trở lại bình thường.
27. Lẹo mắt (lên chắp)
Chỉ cần bấm vào chân mụn lẹo vài lần, mụn lẹo sẽ tiêu rất nhanh. Nhớ phát hiện càng sớm, chữa càng khỏi nhanh.
28. Liệt mặt (Thần kinh số 7 ngoại biên)
Chỉ cần nhìn qua bên mặt bị liệt đã thấy hai triệu chứng rõ rệt: mắt nhắm không khít và một bên mép bị méo xệch xuống. Cách chữa hết sức đơn giản đến mức khỏi rồi mà vẫn tưởng như nằm mơ. Nhanh độ 3 ngày, chậm độ 7 ngày là khỏi.
a. Lấy điếu ngải cứu đốt hơ bên mắt lành độ vài phút, mắt có bệnh cứ từ từ nhắm lại. Mỗi ngày hơ vài lần, mắt nhắm lại dần dần.
b. Lấy tay hoặc lăn đôi nhỏ (trong bộ dụng cụ lăn, day huyệt) lăn chéo từ mép bị méo lên phía đỉnh tai. Ngày lăn nhiều lần, mỗi lần lăn độ vài phút. Chẳng bao lâu mép sẽ được kéo lên cân bằng với mép lành.
29. Mắt không di động được
Chỉ cần gõ vài chục lần vào huyệt nằm ở phía trước và dưới bình tai, mắt sẽ chuyển động bình thường. Huyệt này nằm ở ngay chỗ lõm sát bình tai, khi há miệng là sờ thấy ngay. Đây là huyệt số 0 của diện chẩn và đồng thời cũng là huyệt Thính hội của Đông y.
30. Đắng miệng
Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào huyệt lõm kề sát bên dưới môi dưới (huyệt 235) độ vài chục cái, miệng hết đắng liền!
31. Hàm mặt đau cứng (Thần kinh số 5)
Lấy điếu ngải cứu hơ mặt ngoài ngón tay cái (cùng bên đau) từ ngón đến giáp cổ tay. Nhớ khi hơ bàn tay phải xòe ngửa ra. Chỉ cần hơ độ vài phút, hàm mặt đau cứng sẽ mềm dần và trở lại bình thường.
32. Hắt hơi liên tục
Sẽ hết ngay trong 1 phút nếu biết lấy ngải cứu hơ dọc từ giữa trán (huyệt 103) thẳng xuống đến giữa đôi lông mày (huyệt 26).
33. Ho khan lâu ngày
Lấy ngải cứu hơ hai bên sườn mũi, hai bên mang tai (từ đỉnh tai xuống đến dái tai), cổ tay trong (của bàn tay trái đã nắm lại) và trực tiếp cổ họng.
34. Hóc (hột trái cây, xương)
Bấm hoặc gõ vào huyệt sát đầu nhân trung (huyệt 19) nhiều lần.
35. Các khớp ngón tay khó co duỗi
Lấy ngải cứu hơ đầu xương các đốt ngón tay rồi lăn, vê các đốt đó nhiều lần.
36. Mắt quầng thâm
Lấy ngải cứu hơ trực tiếp vào mắt, quầng thâm sẽ tan dần.
37. Buồn ngủ nhíu mắt lại
Vò hai tai một lúc là tỉnh ngủ liền.
38. Nhảy mũi
Lấy ngón tay trỏ cào từ cửa lỗ mũi xuống đến môi vài chục cái là hết nhảy mũi!
40. Quai bị
Bấm huyệt ngay sát dái tai bên sưng (huyệt 14) rồi hơ dái tai đối xứng độ vài phút. Ngày làm nhiều lần, quai bị tiêu rất nhanh.
41. Nhức răng
Hơ ngải cứu quanh vùng má bên đau độ 1 phút, răng hết nhức liền.
42. Mắt đỏ
Gạch đầu gan bàn tay dưới 3 ngón tay giữa độ vài phút, mắt đỏ hết rất nhanh. Nhớ mắt đỏ bên nào, gạch bàn tay cùng bên.
43. Mắt nhức
Hãy dùng đầu ngón tay trỏ cào đỉnh tai (huyệt 16) bên mắt nhức độ một lúc, mắt hết nhức liền.
44. Mắt nháy (giật)
Dùng đầu ngón tay trỏ cào vào phần dưới (huyệt 179) của đầu lông mày bên mắt bị nháy một lúc, mắt sẽ hết giật.
45. Tê lưỡi, cứng lưỡi
a- Hơ ngải cứu xong rồi vê ngón tay cái bàn tay trái một lúc, lưỡi hết tê.
b- Gõ vào huyệt sát trên dái tai độ 1 phút, hết cứng lưỡi.
46. Khan tiếng
a- Chà xát vùng gáy cho nóng lên độ vài phút là hết.
b- Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào vùng trước dái tai nhiều lần trong ngày

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Làm thế nào bảo đảm tương lai kinh tế gia đình/ Âm mưu thống trị thế giới của Do Thái

Kinh chuyen:

Mercredi 3 Décembre 2014


Làm thế nào bảo đảm tương lai kinh tế gia đình/ Âm mưu thống trị thế giới của Do Thái


Khi chúng ta vào net, chúng ta có thể vui vẻ tìm những chuyện cười, tìm hình ảnh đẹp để chia sẻ mà đôi khi chúng ta quên rằng thế giới ngày hôm nay không sống bằng nước lã và tiền giấy tha hồ in, tha hồ ném qua cửa sổ.
Đồng tiền mồ hôi , nước mắt có giá trí riêng của người khổ chủ. Qua đó, chúng ta ngẫm nghĩ lại xem , tiền của cha mẹ ta nuôi ta khó khăn thế nào để chúng ta được tương lai may mắn hơn người.
Kế tiếp chuyện cuộc đời và gia tài của từng cá nhân, gia đình và sau cùng hãy bỏ chút thì giờ nghĩ đến chuyện kinh tế chính phủ đất nước ta đang sống và xa hơn nữa hệ thống tiền tài trên thế giới.
Chúng ta cũng có thể thờ ơ, cứ quên đi ta cứ hưởng những gì ta có, hưởng nhiều hơn thế, vì nhà băng nào cũng thích làm chủ nợ chứ họ không bao giờ thích khách hàng không chịu mượn nợ để chi tiêu mà cứ dành dụm.
Khi kinh tế đang cho nhiều việc làm, ai ai cũng ăn chơi thỏa thích và tha hồ mượn nợ và bất chợt một hôm ta chợt nghĩ ra tuổi già, tuổi hưu đã đến hay đến rồi mà ta mở ngăn tù nào cũng chứa giấy nợ, ít nhiều  chưa thanh toán.
Việc làm của mình thì bấp bênh vì kinh tế đang xuống dốc thì hãng xưởng chỉ thích đầu tư và mướn ai cho gía rẻ nhất.
Kết quả của những năm mua hàng rẻ, mướn ngoại quốc sản xuất rẻ là đời con cháu chúng ta dần dần không còn việc, tuổi ta thì không biết hãng còn giữ ta đến hôm nào.
Thế hệ trẻ lớn lên trong xã hội khan hiếm việc, trước đây một bằng cấp kỷ sư trường giỏi, hãng nào cũng tranh nhau mướn, bây giờ thì... hỡi ơi!!!
Vì vậy , hôm nay tôi chỉ muốn mượn một bài trong Blog Đỉnh Sóng để gửi đến quý anh chị sống trong hay ngoài nước những ý thức về đồng tiền, đến tình hình kinh tế thế giới mà hướng dẫn cho con cháu mình một hướng đi chính chắn và vững vàng.
Caroline Thanh Hương

Dòng họ Rockefellers

Và âm mưu thống trị thế giới của Do Thái


http://www.dinhsong.net/DS/ChinhTriKinhTe/FunnyGifs/US_Emblem.jpghttp://www.dinhsong.net/DS/ChinhTriKinhTe/FunnyGifs/NewWorldOrder.jpg

(Vì không có quốc gia riêng nên chúng ta phải biến toàn bộ thế giới nầy thành thế giới của chúng ta, bắt đầu với những quốc gia chứa chấp chúng ta và chấm dứt với Trật Tự Thế Giới Mới, một tên gọi khác của Thế Giới Đại Đồng Mác-Lê  - nghĩa là một chế độ cộng sản toàn cầu Do Thái trị, một loại trật tự do bọn vô gia cư làm chủ, trong đó, cũng giống như Do Thái, mọi dân tộc khác sẽ không có biên giới quốc gia: ARMAGEDDON - TẬN THẾ).
Nếu mục tiêu đó đạt được, thì ai sẽ là bên hưởng lợi nhiều nhất? Đương nhiên là những người không có tổ quốc: Do Thái. Khi những kẻ vô gia cư kêu gọi bạn đoàn kết, điều đó có nghĩa là: (1) Bạn sẽ ra đường sống chung với họ - kịch bản của những tên khùng  (2) Họ sẽ vào chiếm nhà của bạn và đuổi bạn ra đường - kich bản của những nạn nhân cộng sản. Trường hợp nào thì họ cũng thắng cả. Khi người Do Thái không có quốc gia riêng theo công pháp quốc tế thì các dân tộc khác khó lòng có quốc gia riêng của họ.

Nguồn gốc Do Thái của dòng họ Rockefellers

Theo Willie Martin, dòng họ Rockefellers thuộc hệ Sephardic (có nghĩa là Do Thái trong tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha). Thông tin nầy được tìm thấy trong cuốn "Americans of Jewish Decent" do Malcolm H. Stern, một sử gia người Do Thái biên soạn, và chỉ ấn hành cho người Do Thái một vài năm trước đây. Sách nặng 10 pounds và cung ứng tiểu sử của 25 ngàn người Do Thái ở Hoa Kỳ. Điều đáng lưu ý là chỉ có 550 ấn bản được in ra và mỗi ấn bản được đánh số thứ tự. Sách được trao cho những lãnh tụ Do Thái chóp bu ở Hoa Kỳ dùng làm tài liệu tham chiếu cá nhân khi hành xử và tiếp xúc với những người mệnh danh là "Marranos" (tức những người Do Thái giả vờ làm tín đồ Cơ Đốc trong cộng đồng của họ trong khi vẫn bí mật duy trì tôn giáo và chủng tộc Do Thái khi gặp những người Do Thái khác.) Cũng theo tài liệu nầy, nhiều thế kỷ trước, người Do Thái đã tràn ngập Tây Ban Nha với số lượng lớn và nhờ cho vay nặng lãi và ăn cắp họ đã trở thành những đại điền chủ. Người Do Thái kiểm soát cả Tây Ban Nha lẫn Bồ Đào Nha nhờ vào độc quyền trên hệ thống tài chánh của hai quốc gia nầy. Vào năm 1942, Hoàng Đế Ferdinand và Hoàng Hậu Isabella của Tây Ban Nha đã trục xuất người Do Thái khỏi nước và tịch thu tài sản bất chính của họ. Chính trong thời kỳ nầy gia đình Rockefellers đã di cư sang Đế Quốc Thổ bấy giờ đang chào đón người Do Thái, vì tin họ là một "dân tộc đáng thương bị ngược đãi."

http://www.dinhsong.net/DS/ChinhTriKinhTe/FunnyGifs/rockefeller-museum.jpg

Ông nội của cựu phó tổng thống Hoa Kỳ, Nelson Rockefeller, đã thú nhận rằng gia đình ông ta đã có lần di cư từ Thổ Nhĩ Kỳ sang Pháp. Từ Pháp họ di cư sang Hoa Kỳ. John D. Rockefeller, Sr. là một người giàu có ngay cả trước khi tiếp quản công ty Standard Oil Co., khiến gia đình họ trở thành một trong những gia đình giàu nhất thế giới. Chưa thấy ai giải thích tại sao gia đình nầy tự nhiên lại giàu có như thế ngay khi từ Pháp đến Hoa Kỳ. Không có thông tin chính thức giải thích tại sao gia đình Rockefellers có được những số tiền khổng lồ ở Pháp. Có thể họ đã nhận những số tiền đó từ tập đoàn tài chánh Do Thái Rothschilds và ngay từ buổi đầu đã làm việc cho tập đoàn nầy bằng cách mua đứt những cơ sở thương mại Cơ Đốc ở Hoa Kỳ. Như thế, cho dù Rockefellers không thực sự Do Thái đi nữa thì cũng là tay sai của tập đoàn tài phiệt Do Thái Rothschilds. "Marranos" là những người Do Thái giả vờ cải đạo sang Cơ Đốc Giáo để đánh lừa các tín đồ Cơ Đốc trong khi làm ăn nhưng vẫn bí mật tiếp tục theo đạo Judaism trong những buổi lễ riêng tư. Do đó, một gia đình như Rockefellers thường là công cụ hoàn hảo cho tập đoàn  Rothschilds ở Pháp vốn từ nhiều thế kỷ đã từng xử dụng những mật vụ để thi hành âm mưu của họ. 

"The Thunderbolt" là tờ báo đầu tiên khiến công chúng chú ý đến nguồn gốc Do Thái của Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller. Cuối cùng, thông tin giải thích tại sao ông luôn luôn có thể chăm sóc kỹ lưỡng những quyền lợi Do Thái như thế và tại sao khi làm Thống Đốc New York, chính quyền của ông lại đầy người Do Thái từ trên xuống dưới. Những chiến dịch tranh cử của ông trong quá khứ luôn luôn được người Do Thái điều khiển và ông luôn luôn được hậu thuẫn của cộng đồng Do Thái  trong bất kỳ đợt tranh cử chính trị nào của ông. Thông thường người Do Thái không hậu thuẫn một tỉ phú Cơ Đốc nào vào vị trí chính trị vì họ sợ sẽ không thể điều khiển được người đó sau khi đắc cử. Các lãnh tụ cộng đồng Do Thái từ lâu đã biết Rockefellers là những đồng bào Do Thái của họ và sự kiện đó chắc chắn giải thích tại sao các cộng đồng Do Thái đã luôn luôn hậu thuẫn những tham vọng chính trị của Rockefellers. Bây giờ chúng ta có thể thấy tại sao Nelson Rockefeller và David Rockefeller tiến cử Henry Kissinger, đồng chí Do Thái của họ, vào chính quyền của Nixon; và Kissinger ngược lại đã xử dụng chức vụ của mình để cất nhắc đồng chủng Rockefeller của ông ta vào hệ thống công quyền.  Leonard G. Horowitz đã phơi bày một trong những cấu kết giữa Kissinger và Rockefeller trong một tài liệu mang tựa đề "Kissinger and Rockefeller Connections to American Central Intelligence and the Origins of AIDS and Ebola" ở địa chỉ:

http://www.tetrahedron.org/articles/aids-coverups/Kissinger-Rockefeller-AIDS.html

Rockefellers và Hệ thống Bilderberg Group

Bilderberg Group là một trong bốn nhóm đầu nậu của hệ thống siêu quyền lực ẩn danh thường được gọi với nhiều tên khác nhau như Shadow Government, New World Order, Conspiracy for World Domination

1. The Council on Foreign Relation (4500 thành viên),

2. The Trilateral Commission ( 87 Americans 337 từ các quốc gia khác),

3. The Bilderberg Club (120-140 "khách") và

4. Nhiều cơ quan được miễn thuế khác như The Rockefeller Foundation, trong đó những đại biểu và quản gia then chốt cùng với những quyền lợi  của tập đoàn tiêu biểu cho những kế hoạch trước mắt và toàn cầu; và nghị trình được bàn thảo, cải thiện và sau đó được thi hành bởi những đám lưu manh chính trị nô bộc.

http://www.dinhsong.net/DS/ChinhTriKinhTe/FunnyGifs/bushflag.jpghttp://www.dinhsong.net/DS/ChinhTriKinhTe/FunnyGifs/obamaflag.jpg

Trên thực tế, phần lớn những nhân vật chủ chốt của các hệ thống nầy đều là những chủ ngân hàng Do Thái, đứng đầu là David Rockefeller. Nhân vật nầy vừa nắm chức chủ tịch của tỏ chức Council on Foreign Relation vừa nằm trong thành phần lãnh đạo của nhóm Bilderberg Club lại vừa có một tổ chức riêng mang tên The Rockefeller Foundation, vừa là nhà sáng lập  của Ủy Ban Trilateral Commission. Chính Ủy Ban The Trilateral Commission và David Rockefeller, kẻ dựng ngôi vua ở Hoa Kỳ, đã đưa một gã vô danh là Jimmy Carter vào Tòa Bạch Ốc năm 1976. Sự nghiệp chính trị của nhiều người đã vươn lên như phép lạ sau khi tham dự buổi hội nghị Bilderberg đầu tiên của họ: Margaret Thatcher, Bill Clinton, and Tony Blair. Obama đã bổ nhiệm 11 thành viên của Ủy Ban Trilateral Commission (nghĩa là hơn 10%) vào những chức vụ hàng đầu và then chốt trong chính quyền của ông trong mười ngày đầu của nhiệm kỳ của ông. Giữa 1945 và 1972, khoảng 45% những viên chức ngoại giao hàng đầu phục vụ trong chính phủ Mỹ cũng là những thành viên của Hội Đồng Tài Phiệt The Council on Foreign Relation, khiến một trong những thành viên hàng đầu có lúc nói rằng việc gia nhập vào Hội Đồng chủ yếu là một "nghi thức thăng tiến" thành một viên chức của chính sách ngoại giao...Khoảng 42% những chức vụ ngoại giao hàng đầu trong chính quyền Truman do các thành viên của Hội Đồng Tài Phiệt nắm giữ; con số đó là 40% trong chính quyền của Eisenhower, 51% trong chính quyền của Kennedy, và 57% trong chính quyển của  Johnson. Hội Đồng Tài Phiệt đã và tiếp tục có những ảnh hưởng lớn lao trong thế giới truyền thông, nhờ đó nó có thể quảng bá ý thức hệ của nó, thăng tiến những nghị trình của nó, và che đậy ảnh hưởng của nó... Cơ Quan Tình Báo Trung Ương CIA cũng không phải là kẻ xa lạ trong hệ thống nầy, vì thường xuyên trong những thập niên đầu khi mới hình thành, những giám đốc của nó đều đến từ Hội Đồng, như Allen Dulles, John A. McCone, Richard Helms, William Colby, và George H.W. Bush." Nhóm Bilderberg Club cũng có "mời" những chức sắc vớ vẩn trong giới hàn lâm và khoa học để làm "bình phong" che mắt, như Fouad Ajami, Giám đốc của Middle East Studies thuộc Đại Học John Hopkins University, và Martha Farrah, Giám Đốc của Trung tâm Center for Cognitive Neuroscience thuộc Đại Học University of Pennsylvania, trong khi thành phần nồng cốt vẫn là những tay Do Thái sừng sỏ như:

- Ben Shalom Bernanke: Chủ tịch Ngân Hàng  Dự Trữ Tư Nhân Liên Bang

- James Wolfensohn: Nhà tài chánh Do Thái Quốc tế. Chủ tịch công ty đầu tư Wolfensohn & Company Investments. Vì là một cựu Giám Đốc Ngân Hàng Thế Giới, tay Do Thái nầy có hơn 140 nhân viên và văn phòng ở Luân Đôn , Tokyo và Moscow. Wolfensohn cũng có một cổ phần với ngân hàng Fuji Bank của Nhật và Jacob Rothschild của Anh.

- Robert Zoellick: Chủ Tịch tổ hợp ngân hàng US World Bank Group, một chi nhánh ngụy trang của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) do tập đoàn tài chánh Do Thái Rothschild điều hành.

- Josef Ackermann: Chủ Tịch của Ủy Ban Điều hành của Deutsche Bank AG ở Thụy Sỹ. Ackermann là một đồng lõa của tập đoàn tài chánh Do Thái Rothschild về tội phạm tài chánh.

- Kenneth Jacobs: Phó Giám Đốc của  Lazard Bank North America. Lazard Bank, một trong những đại bài của tập đoàn tài chánh Do Thái Rothschild, hoạt động trong 39 thành phố khắp Bắc Mỹ, Âu Châu, Úc, Á Châu, và Nam Mỹ.

- David Rockefeller: Chủ nhân của Chase Manhattan Bank. Cựu Chủ Tịch  của Hội Đồng Council on Foreign Relations và là nhà sáng lập  của Ủy Ban Trilateral Commission. Cho dù không thực sự là người Do Thái đi nữa thì Rockefeller cũng là tay sai của tập đoàn tài chánh Do Thái Rothschild .

Rockefeller và Cộng sản Quốc tế

Trong tài liệu "The Rockefeller File," Gary Allen cho thấy rằng Liên Xô đã được giữ cho tồn tại nhiều thập niên nhờ vào những khoản tiền vay khổng lồ lãi suất nhẹ, do những người thọ thuế Hoa Kỳ tài trợ, và những khoản vay nầy được thực hiện thông qua Ngân Hàng Export-Import Bank ở New York do gia đình Rockefellers thành lập. Từ lâu thế giới đã bị điều khiển theo một nghị trình quốc tế nhằm tiến tới một chính phủ thế giới với giới thượng lưu (Do Thái) của Nga và Mỹ cùng làm việc với nhau. Đó là lý do tại sao gia đình Rockefellers lại dính líu với Liên Xô. Năm 1938, Trotsky nói rằng kế hoạch New Deal báo hiệu sự cáo chung của chủ nghĩa tư bản ở Hoa Kỳ:

"You will have a revolution, a terrible revolution. What course it takes will depend much on what Mr. Rockefeller tells Mr. Hague to do. Mr. Rockefeller is a symbol of the American ruling class and Mr. Hague is a symbol of its political tools."

(Bạn sẽ thấy một cuộc cách mạng, một cuộc cách mạng khủng khiếp. Cuộc cách mạng đó đi về đâu thì tùy thuộc phần lớn vào những gì Mr. Rockefeller bảo Mr. Hague phải làm. Mr. Rockefeller là một biểu tượng của giai cấp cai trị của Mỹ và Mr. Hague là một biểu tượng cho những công cụ chính trị của giai cấp đó).

Gia đình Rockefellers dàn dựng tổ chức Council of Foreign Relations của hệ thống siêu quyền lực ẩn danh, hoạt động như một chính phủ ma (shadow government) ở Hoa Kỳ. Hầu như mọi tay chơi quan trọng trên chính trường và truyền thông đều là thành viên của tổ chức đó, kể cả Tổng Thống Obama và George Bush Jr. Chính David Rockefeller cuối cùng đã thú nhận có một âm mưu toàn cầu nhằm "đoàn kết" thế giới lại dưới một "chính phủ quốc tế (World Government)."

"Some even believe we are part of a secret cabal working against the best interests of the United States, characterizing my family and me as ‘internationalists’ and of conspiring with others around the world to build a more integrated global political and economic structure - one world, if you will. If that is the charge, I stand guilty, and I am proud of it." - David Rockefeller

(Một số người tin rằng chúng tôi dự phần vào một âm mưu bí mật chống lại những quyền lợi  tốt nhất của Hoa Kỳ, cho rằng gia đình tôi và tôi theo chủ nghĩa quốc tế và đang âm mưu cùng với những người khác trên thế giới để xây dựng một cơ cấu toàn cầu - hay một thế giới, nếu bạn muốn - về chính trị và kinh tế liên kết hơn. Nếu đó là lời cáo buộc thì tôi xin nhận tội, và tôi hãnh diện về điều đó.)

Nga và Mỹ đã từng luôn luôn cấu kết với nhau ở cấp cao, và điều nầy đã không thay đổi với nước Nga hiện tại, một nước Nga đang được Giáo Hội Chính Thống Do Thái hậu thuẫn tuyệt đối, một nước Nga trong đó một số ít tay trùm Do Thái chiếm 50% những tập đoàn cả nước. Những tên trùm Do Thái này, cùng với những cơ sở tài chánh và kinh tế của chúng thường được gọi là "Big Seven": Rem Vyakhirev (Gazprom), Boris Berezovsky (Logovaz), Vladimir Gusinsky (Most Bank), Vaghit Alekperov (Lukoil), Alexander Smolensky (Stolichnyy Bank), Mikhail Khodorkovsky (Rosprom), and Andrey Kazmin (Sberbank).

Mục tiêu của cái Trật Tự Thế Giới Mới (New World Order) là phối hợp chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản thành một chính phủ thế giới tập đoàn-cộng sản (corporate-communist world government), thường được gọi là "Global Governance ," "Collectivism" hay "Third Way."  Từ đó, trong đời thực ở hai chế độ cộng sản Bắc Kinh và Hà Nội xuất hiện những tháp ghép quái đản: tư bản đỏ, tư sản đỏ, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, toàn trị độc đảng nhưng lại có "luật pháp" và "hiến pháp" theo lối Tây Phương, có "quốc hội" và có "bầu cử" dù là "đảng cử dân bầu," có đối lập cuội v.v.. Và cũng từ đó phát sinh chủ thuyết toàn cầu hóa (Globalization), Thuyết Duy Lợi, Thuyết Big Money, chủ nghĩa Dollarocracy, nhập cư bất hợp pháp, lao động xuất khẩu, buôn người xuyên biên giới, kinh doanh hôn nhân; từ đó mới có chiêu bài "bình thường hóa quan hệ với cộng sản". Từ đó mới có Liên Hiệp Quốc, Asean, Liên Âu, World Bank, IMF, WTO, APEC, TPP..., những định chế phần lớn do bọn mủi két nắm đầu. Thuật ngữ Địa Chính Trị (Geopolitics) ngày nay có nghĩa là nhìn đâu cũng thấy Do Thái và sờ đâu cũng chạm phải Do Thái; và ở đâu có Do Thái ở đó có chiến tranh, mâu thuẫn, và tranh chấp vì chiêu thuật sở trường của Do Thái là dùng quốc gia nầy đánh đổ quốc gia khác, dùng xung đột để xuất khẩu vũ khi, chiến cụ và nhất là NỢ, một món quà được làm bằng giấy lộn và không khí để tạo cảnh phồn vinh giả tạo nơi những quốc gia "đồng chí". Rồi ra, tất cả mọi quốc gia đều trở thành con nợ của Do Thái, kể cả những quốc gia giàu "tiền bỏ ống" như Trung Quốc. Khi một chính phủ cai trị bằng tiền vay ngân hàng thì chính các chủ ngân hàng cai trị chứ không phải chính phủ, và những chủ ngân hàng đó đương nhiên là các tập đoàn tài phiệt Do Thái. Những chính trị gia hàng đầu của thế giới đang trở thành những công sai Do Thái. Giới lãnh đạo đầu não của Kremlin, Trung Nam Hải, và Bắc Bộ Phủ Hà Nội, trước hết và trên hết, dứt khoát không thoát được vòng cương tỏa của con bạch tuộc Do Thái. Chung qui, cái mệnh danh là "phối hợp" đó chỉ là một tên gọi khác của thế giới đại đồng hoang tưởng trong thuyết Mác-Lê. Nếu mục tiêu đó đạt được, thi ai sẽ là bên hưởng lợi nhiều nhất? Đương nhiên là những người không có tổ quốc: Do Thái. Khi những kẻ vô gia cư kêu gọi bạn đoàn kết, điều đó có nghĩa là: (1) Bạn sẽ ra đường sống chung với họ - kịch bản của những tên khùng  (2) Họ sẽ vào chiếm nhà của bạn và đuổi bạn ra đường - kich bản của những nạn nhân cộng sản. Trường hợp nào thì họ cũng thắng cả. Khi người Do Thái không có quốc gia riêng theo công pháp quốc tế thì các dân tộc khác khó lòng có quốc gia riêng của họ.

(Vì không có quốc gia riêng nên chúng ta phải biến toàn bộ thế giới nầy thành thế giới của chúng ta, bắt đầu với những quốc gia chứa chấp chúng ta và chấm dứt với Trật Tự Thế Giới Mới, một tên gọi khác của Thế Giới Đại Đồng Mác-Lê - nghĩa là một chế độ cộng sản toàn cầu Do Thái trị, một loại trật tự do bọn vô gia cư làm chủ, trong đó, cũng giống như Do Thái, mọi dân tộc khác sẽ không có biên giới quốc gia: ARMAGEDDON - TẬN THẾ).

** [Cộng đồng Người Việt tị nạn ở Mỹ chống cộng thì cứ chống, nhưng xin đừng quên rằng cộng sản đang ở chung quanh bạn; và chúng được Mossad và CIA bảo vệ đấy (Sorry, just kidding)].


Vài nhận định:

- Tzipora Menache, Israeli spokeswoman: "Quý vị biết rất rõ, và những người Mỹ ngu xuẩn cũng biết rất rõ, rằng chúng ta kiểm soát chính phủ của chúng, bất luận ai ngồi trong Tòa Bạch Ốc. Như quý vị thấy, tôi biết  và quý vị biết rằng không một tổng thống Mỹ nào có thể đủ tư cách thách thức chúng ta cho dù chúng ta có làm chuyện khó tin. Chúng nó - bọn Mỹ -             có thể làm gì được chúng ta? Chúng ta kiểm soát quốc hội, chúng ta kiểm soát truyền thông, chúng ta kiểm soát kỹ nghệ giải trí, và chúng ta kiểm soát mọi thứ ở Mỹ. Ở Mỹ, bạn có thể chỉ trích Thượng Đế, nhưng bạn không thể chỉ trích Israel..."

- Thomas Jefferson: "Mặc dù sống rải rác, người Do Thái vẫn tạo thành một quốc gia như những người ngoại quốc trên vùng đất họ đang sống."

- Napoleon Bonaparte: "Những ác quỷ Do Thái không phát xuất từ những cá nhân, mà từ bản chất nền tảng của giống dân đó."

- George Washington: "Người Do Thái chống lại chúng ta hữu hiệu hơn quân thù. Họ nguy hiểm gấp trăm lần cho tự do và lý tưởng mà chúng theo đuổi...."

- Benjamin Franklin: "Mối đe dọa là Do Thái.... Trong bất kỳ quốc gia nào mà họ định cư với số nhiều, họ đều hạ thấp đạo đức, xem thường chính trực thương mại, tự tách rời và không chịu đồng hóa.... Nếu không loại họ ra khỏi Hoa Kỳ nầy, trong Hiến Pháp, thì không đến 200 năm nữa họ sẽ sinh sôi nẩy nở ở đây đông đảo đến độ họ sẽ đô hộ và nuốt hết cả nước và thay đổi hình thức chính phủ của chúng ta, và triệt hạ tự do của chúng ta."